Đề tài Giải pháp cơ bản hoàn thiện hoạt động kinh doanh tại sở Giao Dịch I - Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam

Giải pháp cơ bản hoàn thiện hoạt động kinh doanh tại sở Giao Dịch I - Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam(123 trang) LỜI NÓI ĐẦU Trong xu thế phát triển chung của xã hội, cùng với sự đi lên của khoa học - kỹ thuật công nghệ thì lĩnh vực ngân hàng phải là lĩnh vực phát triển hàng đầu của nền kinh tế, bởi lẽ nó là huyết mạch của nền kinh tế. Nó đóng vai trò trung gian tài chính vô cùng quan trọng giữa người gửi tiền và người vay tiền. Nó cân đối, điều hoà giữa lượng tiền nhàn rỗi trong dân cư và các tổ chức khác với bên kia là các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh đang cần có vốn để phát triển mở rộng hoạt động kinh doanh của mình một cách kịp thời để góp phần thúc đẩy nền sản xuất xã hội và sự phát triển của nền kinh tế. Trong thời gian qua các Ngân hàng Thương mại đã tự khẳng định và ngày càng nâng cao vị trí của mình trong nền kinh tế. Những ngân hàng thương mại này đã dần hoạt động và phát triển theo đúng nghĩa là kinh doanh tiền tệ. Bản thân các ngân hàng thương mại cũng tự mình tìm hiểu nhu cầu của người gửi cũng như người vay để đưa ra các phương thức hợp lý nhất cho cả mình và khách hàng của mình. Việc cung cấp các dịch vụ với chất lượng cao là một trong những thành tố quan trọng nhất để quyết định đến vị thế, uy tín của ngân hàng, là cơ sở chủ yếu để thắt chặt mối quan hệ giữa ngân hàng và khách hàng và nó còn mang nhân tố quyết định đến khả năng sinh lời của ngân hàng. Các dịch vụ ngân hàng phát triển sẽ thúc đẩy các nghiệp vụ truyền thống phát triển theo. Có thể nói trong thời gian tới dịch vụ sẽ lên ngôi, đặc biệt là lĩnh vực bảo hiểm và ngân hàng. Ngành công nghiệp ngân hàng sẽ phát triển mạnh ở nước ta và việc nghiên cứu về ngân hàng sẽ là điêù cần thiết và nó sẽ giúp chúng ta hiểu đúng cũng như nhìn nhận đúng vai trò của Ngân hàng Thương mại trong nền kinh tế. Luận văn tốt nghiệp “Giải pháp cơ bản hoàn thiện hoạt động kinh doanh tại sở Giao Dịch I - Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam” cũng không nằm ngoài mục đích trên. Luận văn nghiên cứu một cách tổng quát về hoạt động kinh doanh dịch vụ ngân hàng ở các NHTM, thông qua các nội dung của luận văn chúng ta sẽ được tiếp cận tìm hiểu về các dịch vụ ngân hàng rất đa dạng và còn mới mẻ ở nước ta. Không chỉ nghiên cứu về lý luận, nội dung của Luận văn còn phân tích kỹ lưỡng hoạt động kinh doanh các dịch vụ ngân hàng của Sở giao dịch I – Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam, từ đó dưa ra các giải pháp cơ bản để hoàn thiện hoạt đông kinh doanh của Sở giao dịch I dựa trên những lý luận đã nghiên cứu. Qua quá trình nghiên cứu đề tài tại Sở Giao Dịch I - Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam tôi đã nhận được sự giúp đỡ, ủng hộ của ban lãnh đạo và tập thể cán bộ nhân viên phòng Kế hoạch Kinh doanh của sở Giao dịch I - Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam cùng với sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của thầy giáo - TS Nguyễn Xuân Quang và cô giáo - CN Đinh Lê Hải Hà. Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ đó. Để hoàn thành chuyên đề này tôi đã sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp từ lý luận đến thực tiễn, từ lý thuyết học ở trường và qua tìm hiểu thực tế tại Sở Giao dịch I - Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam cùng với phương pháp phân tích thống kê để làm sáng tỏ vấn đề nghiên cứu. Nội dung của Luận văn được trình bày ở 3 chương: Chương I: Một số lý luận chung về Ngân hàng Thương mại. Chương II: Thực trạng hoạt động kinh doanh của sở Giao dịch I - Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam trong thời gian qua (1997-2001). Chương III: Giải pháp cơ bản hoàn thiện hoạt động kinh doanh tại Sở Giao dịch I-Ngân hàng nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam. Do thời gian nghiên cứu có hạn, mặc dù đã có nhiều nỗ lực nhưng không tránh khỏi những thiếu sót. Tôi rất mong nhận được sự đóng góp quý báu của các thầy cô và tập thể cán bộ nhân viên tại Sở Giao dịch I cũng như của độc giả. Tôi xin chân thành cảm ơn. Chương I MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI I. VAI TRÒ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG. 1. Khái niệm Ngân hàng Thương mại. Khi nghiên cứu về ngân hàng thương mại, các nhà kinh tế học đều thống nhất với nhau về vị trí, chức năng của ngân hàng trong nền kinh tế. Nhưng khi định nghĩa thế nào là một ngân hàng thương mại thì họ lại không thống nhất. Người thì cho rằng: “Ngân hàng Thương mại là một tổ chức nhận tiền gửi và cho vay tiền”. Người khác thì cho là: “Ngân hàng Thương mại là trung gian tài chính có giấy phép kinh doanh của Chính phủ để cho vay tiền kể cả khoản tiền gửi có thể dùng séc” . Sở dĩ có tình trạng này là do hoạt động của Ngân hàng Thương mại rất đa dạng, các thao tác trong từng nghiệp vụ của Ngân hàng lại rất phức tạp và các vấn đề này luôn luôn biến động theo sự biến đổi chung của nên kinh tế. Mặt khác, do phong tục, tập quán và luật pháp của mỗi quốc gia, mỗi vùng khác nhau đă dẫn đến quan niệm về Ngân hàng Thương mại không đồng nhất giữa các khu vực trên thế giới Theo Luật Ngân hàng và Luật các tổ chức tín dụng thì: “Ngân hàng thương mại là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán”. Như vậy, Ngân hàng Thương mại là một doanh nghiệp kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ thông qua các nghiệp vụ huy động các nguồn vốn để cho vay, đầu tư và thực hiện các nghiệp vụ tài chính khác. 2.Sự ra đời và phát triển của Ngân hàng Thương mại. Ngân hàng là một lĩnh vực hoạt động không thể thiếu của mỗi quốc gia, vì sự phát triển của hoạt động Ngân hàng gắn liền với sự phát triển của nền kinh tế sản xuất xã hội và quyết định đến tiềm lực kinh tế của quốc gia đó. Có thể nói, ngành Ngân hàng ra đời là một sự kết tinh của nền sản xuất hàng hoá nhưng ngược lại cũng chính ngành Ngân hàng lại là động lực rất lớn thúc đẩy nền sản xuất xã hội phát triển. Trước khi tìm hiểu về lịch sử hình thành và phát triển của Ngân hàng chúng ta cần hiểu thuật ngữ Ngân hàng là gì? Ngân hàng Thương mại (NHTM) khác với Ngân hàng Trung ương (NHTW) như thế nào? Như chúng ta đã biết, hệ thống Ngân hàng ở bất cứ quốc gia nào cũng bao gồm hai cấp: - Hệ thống NHTW làm nhiệm vụ quản lý vĩ mô hoạt động của toàn hệ thống Ngân hàng và đưa ra những quyết định, chính sách và thực hiện nghiệp vụ phát hành tiền . - Hệ thống NHTM với chức năng chủ yếu là kinh doanh tiền tệ để thu lợi nhuận. Như vậy, NHTM là một tổ chức kinh doanh dịch vụ, sản phẩm dịch vụ mà nó cung cấp là các dịch vụ Ngân hàng và nó kinh doanh nhằm mục đích thu lợi nhuận từ các dịch vụ đó. Trong thời kỳ đầu, các Ngân hàng xuất hiện và hoạt động một cách độc lập không chịu sự ràng buộc lẫn nhau, với các nghiệp vụ chủ yếu là đổi tiền và giữ hộ tài sản, tiền bạc. Hoạt động này nhằm mục đích đáp ứng nhu cầu phát triển thương mại và giao lưu thương mại. Sản xuất phát triển đưa hoạt động thương mại vượt ra ngoài phạm vi mỗi lãnh thổ, mỗi vùng nhưng điều này lại gây khó khăn cho các thương gia do sự lưu hành các loại tiền khác nhau ở những vùng khác nhau. Và như vậy, các tổ chức Ngân hàng sơ khai xuất hiện đảm bảo mọi yêu cầu cân thử, đổi tiền của người trao đổi. Vì khi nền kinh tế phát triển, rủi ro trong nền kinh tế tăng lên, những người giàu có nghĩ đến việc bảo quản tài sản và các Ngân hàng sơ khai đã đảm nhiệm dịch vụ. Lúc này Ngân hàng phải là nơi an toàn để cất giữ nhiều loại tiền tệ, là nơi có khả năng đảm bảo chất lượng của các loại tiền đem ra trao đổi, vì đó là nơi được dân chúng tin tưởng để ký gửi tài sản và tiền bạc của mình. Theo đó nghiệp vụ giữ hộ của cải, thanh toán hộ dần dần phát triển. Trong việc nhận giữ hộ tài sản trong thanh toán cho khách hàng, mặc dù việc thanh toán được thực hiện rất thường xuyên nhưng trong quỹ luôn tồn tại một số dư. Vì vậy họ cho rằng không nhất thiết phải giữ lại 100% số tiền mà khách hàng ký gửi và hoạt động Ngân hàng được mở rộng với nghiệp vụ chiết khấu và cho vay, phát hành giấy bạc Ngân hàng . Như vậy Ngân hàng đã tác động trực tiếp đến sự phát triển kinh tế, với tư cách là một tổ chức trung gian cho những người có tiền nhàn rỗi và những người cần tiền để đầu tư cho sản xuất kinh doanh, Ngân hàng được chiếm vị trí quan trọng trong nền kinh tế. 3. Vai trò của Ngân hàng Thương mại đối với sự phát triển của nền kinh tế. Thứ nhất: Ngân hàng là nơi cung cấp vốn cho nền kinh tế. Vốn được tạo ra từ quá trình tích luỹ tiết kiệm của mỗi cá nhân, doanh nghiệp và nhà nước trong nền kinh tế, vậy có nhiều vốn phải tăng thu nhập quốc dân và giảm nhịp độ tiêu dùng. Để tăng thu nhập quốc dân tức là để mở rộng quy mô chiều rộng lẫn chiều sâu của sản xuất và lưu thông hàng hoá, đẩy mạnh sự phát triển của các ngành trong nền kinh tế thì cần thiết phải có vốn, ngược lại khi nền kinh tế càng phát triển sẽ tạo ra càng nhiều nguồn vốn cho sản xuất kinh doanh. Ngân hàng Thương mại là chủ thể chính đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất kinh doanh. Ngân hàng Thương mại đứng ra huy động các nguồn vốn nhàn rỗi và tạm thời nhàn rỗi ở mọi tổ chức cá nhân . rồi đem cho vay bằng vốn huy động được trong xã hội và thông qua nghiệp vụ tín dụng. Ngân hàng Thương mại đã cung cấp vốn cho mọi hoạt động kinh doanh, đáp ứng các nhu cầu về vốn một cách kịp thời cho quá trình tái sản xuất, và nhờ có hoạt động của hệ thống Ngân hàng Thương mại các doanh nghiệp có điều kiện mở rộng sản xuất, cải tiến máy móc công nghệ, tăng năng suất lao động, nâng cao hiệu quả kinh tế, tăng cường sức cạnh tranh của mình. Thứ hai: Ngân hàng Thương mại là công cụ để nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Trong sự vận hành của nền kinh tế thị trường, Ngân hàng thương mại hoạt động một cách có hiệu quả thông qua các nghiệp vụ kinh doanh của mình sẽ thực sự là một công cụ để nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Bằng hoạt động tín dụng và thanh toán giữa các Ngân hàng Thương mại trong hệ thống các ngân hàng thương mại đã góp phần mở rộng khối lượng tiền cung ứng trong lưu thông. Thông qua việc cấp các khoản tín dụng cho các ngành trong nền kinh tế Ngân hàng Thương mại thực hiện việc dẫn dắt các luồng tiền, tập hợp và phân phối trên thị trường, điều khiển chúng một cách có hiệu quả, thực thi vai trò gián tiếp vĩ mô: “Nhà nước điều tiết Ngân hàng, Ngân hàng dẫn dắt thị trường”. Nhà nước mà người đại diện là Ngân hàng Trung ương đã điều tiết hoạt động của các Ngân hàng Thưong mại để tác động đến các mục tiêu cuối cùng của nền kinh tế. Thứ ba: Ngân hàng Thương mại là cầu nối giữa nền tài chính quốc gia với quốc tế. Trong nền kinh tế thị trường khi mà các mối quan hệ hàng hoá tiền tệ ngày càng được mở rộng thì nhu cầu giao lưu kinh tế - xã hội giữa các nước trên thế giới ngày càng trở nên cần thiết và cấp bách. Việc phát triển kinh tế mỗi quốc gia luôn gắn với sự phát triển nền kinh tế thế giới và là một bộ phận cấu thành nên sự phát triển đó. Vì vậy nền tài chính của mỗi nước cũng phải hoà nhập với nền tài chính quốc tế. Ngân hàng Thương mại cùng với các hoạt động kinh doanh của mình đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong sự hoà nhập này, thông qua các hoạt động thanh toán buôn bán ngoại hối, quan hệ tín dụng với các Ngân hàng Thương mại nước ngoài, hệ thống Ngân hàng thương mại đã thực hiện vai trò điều tiết nền kinh tế tài chính trong nước phù hợp với sự vận động của nền kinh tế quốc tế. NHTM với các hoạt động và vai trò của mình đã trở thành một bộ phận quan trọng thúc đẩy nền kinh tế phát triển. II.CÁC HOẠT ĐỘNG CHÍNH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI. 1.Huy động vốn. Một NHTM có thể sử dụng 1 trong 4 hình thức huy động vốn sau: 1.1- Nhận tiền gửi. Ngân hàng được nhận tiền gửi của các tổ chức cá nhân và các tổ chức tín dụng khác dưới các hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn và các loại tiền gửi khác. - Tiền gửi không kỳ hạn. Tiền gửi thanh toán được ký thác vào ngân hàng để thực hiện các khoản chi trả về mua hàng hoá, dịch vụ và thực hiện các khoản chi khác. Đây không phải là tiền để dành mà là bộ phận tiền đang chờ thanh toán vì vậy khách hàng có thể rút tiền ra hoặc sử dụng thanh toán bất cứ lúc nào có yêu cầu. Tiền gửi thanh toán bảo quản tại ngân hàng thường nằm ở hai loại tài khoản: + Tài khoản séc: Tài khoản này có dư có, khách hàng chỉ được sử dụng trong phạm vi tiền gửi của mình. + Tài khoản vãng lai: Tài khoản này lúc có số dư nợ, lúc có số dư có. Số dư có thể hiện tiền gửi của khách hàng và số dư nợ thể hiện khoản tín dụng mà ngân hàng đã cung cấp cho khách hàng. - Tiền gửi có kỳ hạn của doanh nghiệp, tổ chức kinh tế - xã hội và tổ chức tín dụng. Tiền gửi có kỳ hạn là loại tiền gửi được uỷ thác vào ngân hàng trên cơ sở có sự thoả thuận thời gian rút tiền giữa ngân hàng và khách hàng và loại tiền gửi này không được dùng để thanh toán. Như vậy theo nguyên tắc, khách hàng chỉ được rút tiền ra khi đã đến hạn thoả thuận. Tuy nhiên trong quá trình cạnh tranh ngân hàng vẫn cho phép khách hàng rút tiền trước thời hạn nhưng không được hưởng lãi suất hoặc lãi suất thấp. Tiền gửi có kỳ hạn là nguồn vốn tín dụng mang tính ổn định, có hiệu suất sử dụng khá cao đối với ngân hàng vì vậy các ngân hàng thường chú trọng biện pháp kích thích để huy động loại tiền gửi này. Có các loại tiền gửi: ngắn hạn (dưới 12 tháng), trung hạn (1-5 năm), dài hạn (trên 5 năm). Mỗi kỳ hạn có một lãi suất tương ứng, với nguyên tắc thời hạn gửi càng dài thì lãi suất càng cao. - Tiền gửi tiết kiệm. Tiền gửi tiết kiệm là khoản tiền nhàn rỗi, để dành của cá nhân, tổ chức được gửi vào ngân hàng nhằm mục đích hưởng lãi theo định kỳ. Lãi xuất của tiền gửi tiết kiệm dân cư thường cao hơn lãi suất tiền gửi có kỳ hạn của các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế - xã hội và tổ chức tín dụng. Có hai loại tiền gửi tiết kiệm là tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn và tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn. Khi khách hàng đến Ngân hàng để gửi tiền thì tuỳ theo nhu cầu của khách hàng mà ngân hàng áp dụng các mức lãi suất khác nhau. Thông thường nếu là gửi có kỳ hạn năm sẽ có lãi suất cao hơn tiền gửi có kỳ hạn tháng (1 tháng, 2 tháng, 3 tháng, 6 tháng .), lãi suất của tiền gửi không kỳ hạn thường là thấp nhất, không kỳ hạn tức là khách hàng có thể rút tiền ra tại bất kỳ thời điểm nào trong thời gian giao dịch của ngân hàng, nơi mà khách hàng đã gửi tiền vào. Cứ vào các buổi sáng, NHTM sẽ niêm yết mức lãi suất trong ngày giao dịch hôm đó, bao gồm lãi suất tiền gửi và lãi suất cho vay. Tiền gửi vào NHTM có thể là đồng nội tệ, cũng có thể là đồng ngoại tệ, nhưng đối với đồng ngoại tệ NHTM thường chỉ nhận những ngoại tệ được trao đổi trên thị trường tài chính Việt Nam và thường là ngoại tệ mạnh. 1.2- Phát hành giấy tờ có giá. Các NHTM cũng như các tổ chức tín dụng khác, khi được Thống Đốc Ngân hàng Nhà nước chấp thuận thì NHTM hay tổ chức tín dụng đó được phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu và giấy tờ có giá khác để huy động vốn của tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước. Chứng chỉ tiền gửi là loại phiếu nợ ngắn hạn (dưới 12 tháng), trái phiếu là loại phiếu nợ trung và dài hạn. + Ngân hàng căn cứ vào nhu cầu sử dụng vốn đặc biệt đối với các dự án đầu tư trung và dài hạn của ngân hàng đối với một khách hàng. Trên cơ sở đó ngân hàng có kế hoạch sử dụng nguồn vốn huy động để đảm bảo khả năng cung cấp tín dụng theo đúng tiến độ của dự án. Ngân hàng thực hiện việc phát hành tín phiếu theo các đợt khác nhau. Các ngân hàng cũng có thể phát hành tín phiếu với mục đích thực hiện chính sách tiền tệ. + Các ngân hàng phát hành các kỳ phiếu ngắn hạn để đáp ứng nhu cầu vay ngắn hạn. 1.3-Vay vốn của các tổ chức tín dụng khác. Khi NHTM không đủ vốn để phục vụ khách hàng và phục vụ hoạt động kinh doanh của mình thì NHTM đó có thể vay vốn của các tổ chức tín dụng khác hoặc các tổ chức tín dụng nước ngoài. + Ngân hàng thương mại vay của các ngân hàng khác nhằm đáp ứng nhu cầu tín dụng của mình với các dự án lớn mà nguồn tiền gửi của ngân hàng không đáp ứng nổi. + Vay các tổ chức tín dụng có tính chất đặc biệt như ngân hàng tiết kiệm. + Vay trên thị trường liên ngân hàng trong nước và quốc tế để đáp ứng nhu cầu thanh toán, nhu cầu tín dụng. + Vay các ngân hàng lớn, ngân hàng nước ngoài nhằm tăng các hoạt động ngân hàng. + Vay từ quỹ dự trữ liên bang của ngân hàng thương mại tại ngân hàng Nhà nước. 1.4-Vay vốn của Ngân hàng Nhà nước. NHTM cũng có thể vay vốn ngắn hạn của Ngân hàng Nhà nước dưới hình thức tái cấp vốn. Ngân hàng Nhà nước thực hiện việc tái cấp vốn cho các Ngân hàng theo những hình thức sau đây: Ø Cho vay lại theo hồ sơ tín dụng; Ø Chiết khấu, tái chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác; -Cho vay có đảm bảo bằng cầm cố thương phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác. (Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam điều 17, điều 30) *Ngân hàng Thương mại đi vay các Ngân hàng Trung ương trong những trường hợp: + Ngân hàng Thương mại thiếu khả năng chi trả, có sự hoán đổi các hợp đồng tín dụng (ngân hàng thương mại đó không có khả năng duy trì các khoản tín dụng lớn trên cơ sở bán lại - sự tái cấp vốn). + Vay trong thanh toán: Khi ngân hàng thương mại tham gia thanh toán trên cơ sở liên ngân hàng dưới sự chủ trì của ngân hàng Nhà nước. Nếu trên tài khoản thanh toán của ngân hàng thương mại mở tại ngân hàng Nhà nước không đủ số dư để thanh toán trong ngày thì ngân hàng Nhà nước đảm bảo cho vay sau đó ngân hàng thương mại phải bù lại. + Trường hợp ngân hàng thương mại trong tình trạng báo động, để duy trì ổn định hệ thống ngân hàng thì ngân hàng Nhà nước sẽ cho vay để nâng đỡ. *Các hình thức cho vay: + Ngân hàng Nhà nước thực hiện tái cấp vốn cho các ngân hàng thương mại, ngân hàng thương mại sẽ thực hiện các hợp đồng tín dụng đã ký kết với khách hàng để xin tái cấp vốn. + Ngân hàng Nhà nước cho vay tái chiết khấu đối với ngân hàng thương mại. Vốn điều lệ là vốn riêng của ngân hàng do các chủ sở hữu tự nguyện đóng góp. Nếu là ngân hàng quốc doanh thì chủ sở hữu góp vốn là Nhà nước, nếu là ngân hàng cổ phần thì là các cổ đông. Vốn điều lệ của ngân hàng được ghi trong giấy phép hoạt động và điều lệ ngân hàng (mức vốn này lớn hơn hoặc bằng vốn pháp định - mức tối thiểu cho mỗi loại hình ngân hàng). -Các quỹ dự trữ. + Quỹ dự trữ đặc biệt: Là loại vốn được trích từ lợi nhuận hàng năm để bù đắp các rủi ro trong quá trình hoạt động. Hàng năm ngân hàng phải trích 10% trên lợi nhuận ròng cho đến khi bằng vốn pháp định. + Quỹ dự trữ: Là loại vốn được trích từ lợi nhuận hằng năm để bổ sung vốn pháp định. Theo Pháp lệnh ngân hàng Việt nam, hàng năm ngân hàng phải trích 5% trên lợi nhuận ròng để lập quỹ này, còn mức tối đa do ngân hàng nhà nước quy định. Theo Luật các tổ chức tín dụng: ngân hàng thương mại có thể huy động vốn tối đa bằng 20 lần vốn tự có của ngân hàng, như vậy vốn ngân hàng thường chiếm tỷ trọng nhỏ hơn so với tổng tài sản có. Đối với các ngân hàng nhỏ và ngân hàng mới thành lập, vốn này chủ yếu để xây dựng trụ sở làm việc và mua sắm trang bị kỹ thuật cho hoạt động của ngân hàng, chỉ có một phần vốn này được dùng vào hoạt động kinh doanh: đầu tư vào các doanh nghiệp khác hoặc cho vay. 2.Hoạt động tín dụng. Hoạt động tín dụng là nghiệp vụ có nhiều rủi do nhất trong hoạt động của ngân hàng. Song nó cũng chính là nghiệp vụ mang lại lợi nhuận cho ngân hàng.Tín dụng ngân hàng là quan hệ kinh tế giữa một bên là ngân hàng và một bên là khách hàng, trong đó ngân hàng chuyển giao tiền hay tài sản cho khách hàng sử dụng trong một thời gian nhất định với những thoả thuận hoàn trả gốc và lãi trong một thời gian nhất định. Tín dụng là hoạt động kinh doanh chủ chốt của ngân hàng thương mại để tạo ra tiền. Đây là nghiệp vụ sinh lời chủ yếu của ngân hàng. Chỉ có lãi suất thu được từ nghiệp vụ tín dụng mới bù nổi chi phí tiền gửi, chi phí dự trữ, chi phí kinh doanh và quản lý, chi phí vốn trôi nổi, chi phí thuế các loại và chi phí rủi ro đầu tư . Nhìn chung, các khoản mục thuộc tài sản có của ngân hàng, nghiệp vụ tín dụng chiếm tỷ trọng lớn nhất, có thể lên tới 70 – 80% tài sản có. 2.1.Vai trò của tín dụng Ngân hàng. Tín dụng của các ngân hàng thương mại có một số vai trò chủ yếu như sau: +Tín dụng ngân hàng là một công cụ tích tụ và tập trung vốn để hỗ trợ cho các doanh nghiệp tái sản xuất mở rộng theo chiều rộng và chiều sâu. Để thực hiện nghiệp vụ tín dụng, đáp ứng nhu cầu vốn ngày càng tăng của sự phát triển kinh tế – xã hội, các ngân hàng phải tìm kiếm nguồn vốn. Vốn ngân hàng bao gồm vốn huy động từ các thành phần kinh tế và vốn tự có của ngân hàng. Trên cơ sở nguồn tiền nhàn rỗi phát sinh trong nền kinh tế mà ngân hàng huy động được, ngân hàng tiến hành phân phối cho nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu vốn để mở rộng quá trình tái sản xuất. Ngân hàng thương mại đóng vai trò là cầu nối giữa tiết kiệm và đầu tư giúp các đơn vị kinh tế mở rộng và phát triển sản xuất. +Ngân hàng thương mại cung cấp các khoản tín dụng ngắn hạn chủ yếu nhằm bổ sung phần vốn lưu động còn thiếu phát sinh trong quá trình sản xuất, kinh doanh hoặc làm dịch vụ của doanh nghiệp. Trong quan hệ kinh tế giữa các doanh nghiệp luôn phát sinh những khoản mua chịu, bán chịu. Vì thế, phần vốn lưu động còn thiếu này phát sinh do có sự không ăn khớp về mặt thời gian giữa các khoản thu và các khoản chi. Tình trạng thiếu vốn ở các doanh nghiệp đã làm cho một số doanh nghiệp bị lúng túng như khi cần mua vật tư, nguyên liệu, thiết bị, phụ tùng . thì không có tiền để mua, do đó khi có điều kiện bán được hàng thì lại không có hàng để bán. + Tín dụng ngân hàng giúp cho các doanh nghiệp tổ chức lại sản xuất kinh doanh và quản lý doanh nghiệp có hiệu quả. Đặc trưng cơ bản của tín dụng ngân hàng là sự vận động vốn trên cơ sở hoàn trả và có lợi tức. Giá của vốn vay chính là lãi suất tín dụng. Qua lãi suất tín dụng ngân hàng buộc các doanh nghiệp phải hạch toán kinh tế, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, tăng vòng quay của vốn, giảm chi phí, tăng khả năng sinh lời . để có thể vừa trả lãi vay của ngân hàng vừa có lãi kinh doanh. Như vậy, thông qua tín dụng ngân hàng, bằng sự kiểm tra giám sát của ngân hàng, vô hình chung các doanh nghiệp đã phải thực hiện nghiêm chỉnh chế độ hạch toán kế toán, vừa giúp cho nhà nước trong khâu quản lý, vừa giúp bản thân doanh nghiệp hoạt động hiệu quả hơn, để có lãi hoàn trả được ngân hàng, tạo uy tín để tiếp tục vay vốn ngân hàng. 2.2.Tài sản Có. Tài sản Có của ngân hàng bao gồm bốn khoản mục chính: - Các khoản mục về ngân quỹ. - Tín dụng. - Đầu tư (chứng khoán). -Tài sản có khác. Nghiệp vụ tài sản có của ngân hàng nhằm quản lý tốt tài sản có để đem lại lợi nhuận cao nhất, đồng thời rủi ro thấp nhất về phía ngân hàng. + Các khoản mục ngân quỹ, bao gồm: Tiền mặt tại quỹ, tiền gửi tại ngân hàng nhà nước, tiền gửi tại các ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác, các khoản ngân quỹ trong quá trình thu nhận. + Tín dụng là hoạt động sinh lợi chủ yếu của ngân hàng. Trong các khoản mục tài sản có, nghiệp vụ tín dụng chiếm tỷ trọng lớn nhất, có thể lên đến 70- 80% tổng tài sản có của ngân hàng. + Đầu tư, bao gồm: Mua trái phiếu chính phủ, tín phiếu kho bạc hoặc trái phiếu của các doanh nghiệp khác. Đầu tư trực tiếp bằng cách mua cổ phiếu các công ty . +Tài sản có khác, bao gồm tài sản cố định, tài sản uỷ thác, tài sản cho thuê và các trang thiết bị khác. Trong các nghiệp vụ có của ngân hàng thì tín dụng đóng vai trò quan trọng nhất, đồng thời cũng rủi ro nhất của ngân hàng. 2.3. Các nghiệp vụ tín dụng của ngân hàng thương mại. Tuỳ theo các tiêu thức khác nhau thì việc phân loại nghiệp vụ tín dụng cũng khác nhau. Em xin liệt kê các tiêu thức, mà căn cứ vào đó người ta phân loại các loại hình tín dụng mà các ngân hàng thương mại cung cấp cho các khách hàng của mình. 2.3.1 Căn cứ theo hình thức cấp tín dụng: a) Căn cứ vào thời gian cấp tín dụng: - Tín dụng có kỳ hạn: là khoản tín dụng có thời hạn xác định về ngày trả nợ. Tín dụng có kỳ hạn bao gồm: tín dụng ngắn hạn, tín dụng trung và dài hạn. + Cho vay ngắn hạn: tối đa đến 12 tháng, được xác định phù hợp với chu kỳ sản xuất kinh doanh và khả năng trả nợ của khách hàng. + Cho vay trung hạn, dài hạn: thời hạn cho vay được xác định phù hợp với thời hạn thu hồi vốn của đầu tư, khả năng trả nợ của khách hàng và tính chất nguồn vốn vay của tổ chức tín dụng. . Thời hạn cho vay trung hạn: từ trên 12 tháng đến 60 tháng. . Thời hạn cho vay dài hạn: từ 60 tháng trở lên nhưng không quá thời hạn hoạt động còn lại theo quyết định thành lập hoặc giấy phép thành lập đôí với pháp nhân và không quá 15 năm đối với cho vay các dự án đầu tư phục vụ đời sống. - Tín dụng không kỳ hạn: Là khoản tín dụng được ứng dụng đối với khoản vay không xác đinh rõ thời hạn trả nợ. b) Căn cứ theo lĩnh vực đầu tư. Theo cách phân loại này, ta có thể phân loại các khoản cho vay thành: . Cho vay sản xuất kinh doanh. . Cho vay tiêu dùng c) Căn cứ vào ngành kinh tế. Căn cứ vào ngành kinh tế, ta phân loại cho vay thành cho vay đối với 20 ngành kinh tế (phân cấp tín dụng theo Tổng cục thống kê Nhà nước quy định trong chế độ báo cáo thống kê): . Cho vay nông lâm nghiệp. . Cho vay thuỷ hải sản. . Cho vay ngành dịch vụ. . Cho vay khai thác mỏ. . Cho vay công nghiệp chế biến. Tuỳ theo điều kiện và nhu cầu quản lý ta có thể chia nhỏ hơn nữa các lĩnh vực trên để có được các loại vay với lĩnh vực hẹp hơn. Phân loại các món vay theo ngành kinh tế có ý nghĩa rất quan trọng trong việc kết hợp giữa đa dạng hoá cho vay các ngành nghề để phân tán rủi ro chuyên môn ở mức độ phù hợp. Các ngân hàng thương mại thường dựa vào lợi thế của mình như lợi thế về vị trí, về trang thiết bị công nghệ, về quy mô, về đội ngũ cán bộ . để chuyên môn hoá vào một hay một số lĩnh vực nhằm khai thác triệt để các lợi thế ấy, dự báo tốt về động thái các ngành mình cho vay, khả năng hoàn trả đúng hạn các khoản vay của khách hàng . Tuy vậy, xu hướng của thế giới hiện nay là vẫn hướng tới các ngân hàng đa năng, trong đó có sự chuyên môn hoá diễn ra ở cấp độ các phòng ban hay bộ phận của các ngân hàng. d) Theo thành phần kinh tế. Theo thành phần kinh tế, ta có thể phân các khoản cho vay thành: - Cho vay doanh nghiệp Nhà nước - Cho vay kinh tế tập thể. - Cho vay kinh tế tư nhân. - Cho vay kinh tế cá thể. - Cho vay kinh tế hỗn hợp. (Năm thành phần kinh tế trên được xác định trong văn kiện Đại hội Đảng lần thứ IX) Đây là cách phân loại không được nhấn mạnh trong nền kinh tế tư bản chủ nghĩa nhưng đối với nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN như nước ta thì việc phân loại này rất có ý nghĩa thực tiễn. Kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo, Nhà nước có các chính sách khác nhau đối với từng khu vực kinh tế hay những ưu tiên và hạn chế khác có tác động lớn đến việc mở rộng hay thu hẹp tín dụng ngân hàng tới các thành phần kinh tế nói chung. Mặt khác, mỗi thành phần kinh tế lại có những đặc điểm riêng biệt nên ngân hàng cần phải có thái độ ứng xử rất khác nhau khi cho các chủ thể thuộc các thành phần kinh tế khác nhau vay. e) Theo phương thức hoàn trả. Theo phương thức hoàn trả thì các khoản cho vay còn có thể được phân theo hai loại: cho vay hoản trả một lần và cho vay trả góp. Cho vay hoàn trả một lần thì các khoản cho vay sẽ được hoàn trả toàn bộ một phần vào thời gian đã hẹn theo hợp đồng tín dụng, lãi suất có thể được hoàn trả theo thoả thuận trong hợp đồng, chẳng hạn theo tháng, theo quý hay theo năm. Trong khi đó, cho vay trả góp đòi hỏi việc hoàn trả theo định kỳ, các khoản này có thể bằng nhau hay không bằng nhau tuỳ theo thoả thuận và được thực hiện theo nguyên tắc trả dần trong suốt thời gian thực hiện hợp đồng. Thông thường, các ngân hàng thường áp dụng phương thức trả góp đối với các khoản cho vay trung và dài hạn còn phương thức trả một lần thường áp dụng đối với cho vay ngắn hạn hơn. f) Theo mức độ đảm bảo. Các ngân hàng có thể cho vay có đảm bảo hay không có đảm bảo tuỳ thuộc vào mức dộ tín nhiệm của ngân hàng đối với khách hàng vay cũng như độ rủi ro của phương án xin vay. Từ đảm bảo của khách hàng ở đây chỉ được hiểu theo nghĩa hẹp là đảm bảo bằng tài sản thế chấp, cầm cố hay bảo lãnh của bên thứ ba. Cách đảm bảo này có mục đích giảm bớt rủi ro mất mát trong trường hợp người vay không trả được nợ hay không muốn trả nợ khi đã đến hạn. Các tài sản được đem thế chấp thường là các bất động sản trong khi các tài sản được đem cầm cố lại là các động sản nhỏ, vật tư hàng hoá, chứng khoán và các giấy tờ khác . Yêu cầu cơ bản đối với các tài sản đem thế chấp, cầm cố là chúng phải có tính thị trường tức là có khả năng thanh lý được. Thường thì các ngân hàng cho vay dưới mức giá được thanh lý của tài sản đảm bảo vì khi ấy khách hàng mới có động lực để trả nợ.Trường hợp khách hàng có tín nhiệm, có tình hình tài chính vững mạnh và lợi nhuận có được từ dự án xin vay là khả quan thì ngân hàng có thể cho vay không cần đảm bảo, điều mà các ngân hàng ở Việt nam gọi là cho vay tín chấp. Điều này giải thích tại sao các ngân hàng có thể cung cấp cho một số khách hàng những khoản tín dụng lớn mà không cần đảm bảo, đó là những doanh nghiệp có quan hệ vay trả sòng phẳng thường xuyên với ngân hàng, có tình hình tài chính vững mạnh, lợi nhuận tương đối ổn định với hệ thống quản lý có hiệu quả, sản phẩm dịch vụ được thị trường chấp nhận. g) Căn cứ nguồn phát sinh các khoản tín dụng: -Cho vay trực tiếp: trước khi cấp tiền ra, ngân hàng có mối liên hệ trực tiếp đối với người vay để thẩm định khách hàng, xem xét tình hình người vay . -Cho vay gián tiếp: ngân hàng bỏ tiền ra cho vay nhưng không có liên hệ gì với người vay như: cho vay hợp vốn đối với ngân hàng khác, . Việc phân loại có ý nghĩa giúp ngân hàng đánh giá, lựa chọn cách thức cho vay cũng như khách hàng tốt nhất, trên cơ sở đó nghiên cứu thể lệ và chính sách tín dụng phù hợp. Trong thực tế kinh doanh ngân hàng chúng ta thường xem xét chủ yếu là các loại hình tín dụng ngắn hạn là chủ yếu. Khi phân chia các loại hình tín dụng ngắn hạn người ta thường nhìn dưới giác độ các “sản phẩm tín dụng” hay còn gọi là kỹ thuật cấp tín dụng. 2.3.2. Căn cứ theo kỹ thuật cấp tín dụng. Ngân hàng thương mại cấp tín dụng dưới các hình thức sau đây: a) Chiết khấu thương phiếu. Chiết khấu thương phiếu là một nghiệp vụ tín dụng cổ điển, nhưng mãi tới ngày nay vẫn được coi là một trong những kỹ thuật cấp tín dụng chủ yếu của ngân hàng thương mại. Chiết khấu thương phiếu là nghiệp vụ tín dụng ngắn hạn trong đó khách hàng chuyển nhượng quyền sở hữu thương phiếu chưa đáo hạn cho ngân hàng để nhận một số tiền bằng mệnh giá của thương phiếu trừ đi lãi suất và hoa hồng. Chiết khấu thương phiếu là một nghiệp vụ ít gặp rủi ro và không làm “đóng băng” tín dụng của ngân hàng. Thông thường, chứng từ mà các ngân hàng sử dụng để chiết khấu là các thương phiếu. Đối với hối phiếu, ngân hàng chỉ chấp nhận khi người mua ký chấp nhận trả tiền. b) Tín dụng thấu chi (vượt chi, ứng chi) Mỗi khách hàng đều có một tài khoản tiền gửi tại ngân hàng. Về nguyên tắc, khách hàng chỉ được sử dụng số tiền đã gửi trên tài khoản. Do nhu cầu kinh doanh, khách hàng thường có nhu cầu chi quá số tiền gửi trên tài khoản. Thấu chi là hình thức cấp tín dụng trước được thực hiện trên cơ sở hợp đồng tín dụng, trong đó khách hàng được sử dụng một số tiền lớn hơn số tiền gửi mà khách hàng hiện có. Thấu chi là hình thức cấp tín dụng giúp cho khách hàng sử dụng vốn chủ động và tiện lợi, tuy nhiên cũng gặp nhiều rủi ro, vì vậy chỉ áp dụng cho những khách hàng có khả năng tài chính mạnh, có uy tín, là khách hàng quen của ngân hàng. c) Tín dụng thuê mua (leasing) Trong nền kinh tế thị trường, tín dụng thuê mua rất phát triển. Tín dụng thuê mua là hình thức cho thuê bất động sản và động sản như: nhà cửa, máy móc thiết bị, xe vận tải, xe chuyên dụng, thiết bị văn phòng . Các chủ thể thuê có thể là: các ngân hàng trực tiếp, các công ty con của ngân hàng hoặc các công ty chuyên doanh thuê mua độc lập thực hiện nghiệp vụ. Ngân hàng cũng có thể liên kết với các nhà kinh doanh bất động sản để đầu tư dưới hình thức tín dụng thuê mua. Khách hàng thuê tiến hành trả dần giá trị tài sản theo hợp đồng đã thoả thuận với ngân hàng. Khi giá trị tài sản đã trả xong, khách hàng được quyền sở hữu tài sản đó. Trong thời gian chưa trả hết nợ, tài sản vẫn thuộc quyền sở hữu của ngân hàng. Tiền thuê bao gồm giá vốn, chi phí các loại thuế và lãi kinh doanh. tuỳ từng loại đối tượng khác nhau mà giá cả thuê mua được tính khác nhau. Thời hạn thuê mua có thể là ngắn, trung hoặc dài hạn. Tuy nhiên thời hạn trung và dài hạn vẫn là chủ yếu. Tín dụng thuê mua ngắn hạn thường ít. d) Tín dụng trả góp. Tín dụng trả góp là hình thức cấp tín dụng mà khách hàng được trả dần số tiền vay gồm cả gốc và lãi theo định kỳ. Tín dụng trả góp có quan hệ chặt chẽ với việc mua bán hàng hoá (tài sản), trong đó chủ yếu ngân hàng cho vay để mua hàng hoá của các công ty thương mại. Việc cấp tín dụng được thực hiện trên cơ sở thoả thuận của ba bên có liên quan: khách hàng mua – người đi vay, công ty bán hàng và ngân hàng. Tín dụng trả góp khác về cơ bản với tín dụng thuê mua là tài sản sau khi bán đã thuộc quyền sở hữu của người mua và họ có quyền định đoạt. Trong trường hợp tài sản thuộc đối tượng của tín dụng là bất động sản thì có thể làm thế chấp cho ngân hàng, khi khách không trả được nợ thì ngân hàng được phát mại tài sản thế chấp và chỉ thu được phần nợ còn thiếu. e) Tín dụng bảo lãnh. Tín dụng bảo lãnh là loại tín dụng phát sinh khi ngân hàng nhận thanh toán cho người bán hàng trong trường hợp người mua không có khả năng thanh toán số nợ này. Ngân hàng thu dịch vụ phí bảo lãnh, mức thu phụ thuộc vào loại nhu cầu bảo lãnh và thời hạn cho vay. Thời hạn cho vay có thể là ngắn, trung hoặc dài hạn. Hình thức bảo lãnh của ngân hàng cũng rất phong phú và đa dạng: bảo lãnh tín dụng, bảo lãnh cung cấp hàng hoá . f) Tín dụng vãng lai. Tín dụng vãng lai là hoạt động vay mượn thường xuyên giữa khách hàng và ngân hàng với nội dung thoả thuận trong hợp đồng tín dụng. Đặc điểm của hình thức tín dụng này là ngân hàng mở cho khách hàng một tài khoản vay vừa dư nợ, vừa dư có (tài khoản vãng lai). Toàn bộ thu nhập của người vay đều được ghi vào bên có tài khoản, toàn bộ chi tiêu ghi bên nợ tài khoản. Khi không còn số dư có, khách được sử dụng một khoản tín dụng như đã thoả thuận trong hợp đồng tín dụng với một mức dư nợ tối đa nào đó. Ngân hàng khống chế số dư nợ mà không khống chế số dư có. Khách hàng được sử dụng vốn vay rất linh hoạt dưới dạng tiền mặt, chuyển khoản, tín phiếu . Điều kiện được vay vốn đối với loại tài khoản vãng lai là người vay có tài sản thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh. Ngoài ra trong một số trường hợp, người vay có uy tín cao thì có thể vay không cần bảo đảm bằng tài sản. Thời hạn vay thường từ 3 - 6 hoặc 12 tháng. Trên lý thuyết, tín dụng vãng lai được xem là tín dụng ngắn hạn. Tuy nhiên, hiện nay có nhiều ngân hàng cho vay với thời hạn 2 – 3 năm nên tín dụng vãng lai trở thành tín dụng trung và dài hạn. g) Tín dụng cấm đồ. Tín dụng cầm đồ lầ loại tín dụng có thế chấp bằng động sản- tài sản cầm đồ, tài sàn này phải được ngân hàng cất giữ, trường hợp cá biệt có thể để ổ kho chyên dùng hoặc giao cho người vay giữ. Tài sản cầm đồ được đánh giá không phải bằng toàn bộ giá trị của nó mà được đámh giá thấp hơn để khi có rủi ro có thể bán được ngay, nhằm thu hồi lại đủ nợ gốc và lãi. Tín dụng cầm đồ cho vay với thời hạn mang tính chất thời hạn mang tính chất thời vụ. Các động sản dùng để cầm dồ rất đa dạng: tín phiếu kho bạc, trái phiếu chính phủ, trái phiếu công ty, cổ phiếu, sổ tiết kiệm, kim loại quý, đá quý . Đối với các loại hàng hoá thì nó phải có giá trị, dễ bảo quản, có chứng từ bảo hiểm cần thiết. Mức tín dụng cầm đồ phụ thuộc vào tài sản mang ra cầm, tỷ lệ này tuỳ theo từng loại tài sản nhưng giao động từ 50 – 90% giá trị tài sản trừ đi lãi suất trong thời gian cầm cố để lại ngân hàng. h)Hình thức tín dụng nhận trả. Là hình thức tín dụng mà ngân hàng nhận trả nợ thay cho người pháthành kỳ phiếu khi đến hạn thanh toán mà ngươì phát hành kỳ phiếu không có khả năng thanh toán. Đây là sự đảm bảo chắc chắn cho người sở hữu kỳ phiếu rằng họ sẽ nhận được tiền khi đến hạn thanh toán cũng như cũng như có thể dễ dàng đem chiết khấu kỳ phiếu đó. Người phát hành kỳ phiếu nhận được sự bảo đảm đó của ngân hàng nên sẽ phải trả nợ ngân hàng một khoản hoa hồng. Trong hợp đồng tín dụng giữa ngân hàng và người phát hành kỳ phiếu có quy định người phát hành kỳ phiếu phải giao số tiền của kỳ phiếu chậm nhất trước ngày kỳ phiếu đến hạn. Trước khi đứng ra đảm bảo cho người phát hành kỳ phiếu, ngân hàng kiểm tra khả năng thanh toán của họ và chỉ đảm bảo cho những đối tượng tin cậy, có uy tín với khả năng tài chính tốt. 3.Các hoạt động dịch vụ khác. 3.1.Thanh toán. Có hai hình thức thanh toán: dùng tiền mặt và không dùng tiền mặt. Thanh toán không dùng tiền mặt là sự vận động của tiền tệ qua chức năng phương tiện thanh toán giữa các tổ chức và cá nhân trong nền kinh tế thông qua vai trò trung gian của ngân hàng bằng cách trích chuyển tiền từ tài khoản của người này sang tài khoản của người khác. Trong đó bao gồm các hình thức thanh toán sau: 3.1.1. Thanh toán bằng séc. Thanh toán là một lệnh trả tiền do chủ tài khoản ký phát hoặc người được uỷ quyền giao trực tiếp cho người thụ hưởng để thanh toán tiền hàng hoá dịch vụ hoặc để trả nợ. Có các loại séc: -Séc chuyển khoản: Là một tờ séc được ký phát trực tiếp trên số dư tài khoản tiền gửi trong kỳ hạn của chủ tài khoản tại ngân hàng và ngân hàng không đảm bảo khả năng chi trả loại séc này. -Séc bảo chi: là một loại séc thanh toán được Ngân hàng đảm bảo khả năng chi trả bằng cách trích trước số tiền trên séc từ tài khoản tiền gửi của người trả tiền sang tài khoản riêng nhằm đảm bảo khả năng thanh toán cho tờ séc đó. -Sổ séc định mức: là một quyển sổ bao gồm nhiều tờ séc chuyển khoản, được Ngân hàng đảm bảo chi trả không phải dùng cho từng tờ séc như séc bảo chi mà cho cả quyển séc trong phạm vi số tiền xác định trước. -Séc chuyển tiền: Đối với việc chuyển tiền khác địa phương có thể đựơc thực hiện thông qua việc lập uỷ nhiệm chi xin phát hành séc chuyển tiền (được giao cầm tay). Khi có nhu cầu chuyển tiền bằng séc chuyển tiền, khách hàng nộp vào Ngân hàng 3 liên uỷ nhiệm chi để trích tài khoản tiền gửi của mình hoặc 2 liên giấy nộp tiền, giấy nộp ngân phiếu thanh toán. 3.1.2 Uỷ nhiệm chi. Uỷ nhiệm chi là lệnh chi tiền của chủ tài khoản giao trực tiếp cho ngân hàng để thanh toán tiền hàng hoặc dịch vụ đã nhận. Uỷ nhiệm chi được sử dụng để thanh toán các khoản hàng hoá, dịch vụ hoặc chuyển tiền giữa hai đơn vị tín nhiệm lẫn nhau. Phạm vi áp dụng của hình thức này là giữa các đơn vị có cùng tài khoản ở Ngân hàng trong cùng hệ thống hoặc khác hệ thống. 3.1.3 Uỷ nhiệm thu. Uỷ nhiệm thu là chứng từ người bán nhờ ngân hàng thu hộ tiền hàng hoá, dịch vụ đã cung cấp cho người mua. Phạm vi áp dụng của hình thức này là giữa các đơn vị mở một tài khoản trong một chi nhánh Ngân hàng hoặc các chi nhánh Ngân hàng trong cùng hệ thống hoặc khác hệ thống. Bên mua và bên bán phải thống nhất thoả thuận dùng hình thức thanh toán uỷ nhiệm thu, đồng thời phải thông báo bằng văn bản cho Ngân hàng bên thụ hưởng để có căn cứ thực hiện uỷ nhiệm thu. Bên bán lập giấy uỷ nhiệm thu theo mẫu của Ngân hàng, kèm theo hoá đơn, vận đơn gửi tới Ngân hàng. Khi nhận được giấy uỷ nhiệm thu, Ngân hàng bên mua phải trích tài khoản của bên mua để thanh toán trong một ngày làm việc. Nếu bên mua không đủ tiền trả thì bên mua sẽ phải chịu một khoản tiền phạt. 3.1.4. Thư tín dụng. Thư tín dụng là hình thức thanh toán có sự đảm bảo của ngân hàng đối với cả người mua và người bán. Người bán nhận được tiền nếu cung cấp hàng hoá, dich vụ theo đúng hợp đồng. Người mua chỉ phải trả tiền khi nhận được hàng hoá theo đúng hợp đồng. 3.2.Dịch vụ bảo lãnh. Bảo lãnh là sự đảm bảo gián tiếp có ba bên tham gia, trong đó bên thứ ba (Bên bảo lãnh) đồng ý chịu trách nhiệm về khoản nợ cho bên thứ hai (khách hàng của mình) nếu người này không trả được nợ cho bên thứ nhất. Nói cách khác, bảo lãnh của Ngân hàng là nghiệp vụ mà ngân hàng chấp nhận thực hiện nghĩa vụ thay cho khách hàng trong trường hợp mà khách hàng của Ngân hàng không thực hiện các nghĩa vụ đã cam kết với bên đối tác. NHTM bảo lãnh cho khách hàng trong các trường hợp sau: 3.2.1.Bảo lãnh cho khách hàng vay ở Ngân hàng khác. Có rất nhiều trường hợp Ngân hàng phải đứng ra bảo lãnh cho khách hàng của mình vay ở Ngân hàng khác. Chẳng hạn như, để thuận tiện cho khách hàng kinh doanh ở nơi xa trụ sở chính chính hoặc trong trường hợp khách hàng là một đơn vị kinh tế cần vay một lượng vốn lớn hoặc một khoản vốn đặc biệt, mà bản thân Ngân hàng không thể hoặc không đủ trách nhiệm để đáp ứng do giới hạn của luật .Để có thể có được đảm bảo của Ngân hàng thì đơn vị kinh tế này phải là khách hàng quen biết lâu năm với Ngân hàng, và ngân hàng biết chắc, nắm rõ được tình hình tài chính của họ. Tuy nhiên, bảo lãnh tín dụng là việc Ngân hàng phải đứng ra chịu trách nhiệm hoàn trả ccho bên thứ nhất nếu khách hàng của họ không trả được nợ, thực chất Ngân hàng luôn đứng trong thế là người cho vay sau này. Do vậy, để có thể cung cấp dịch vụ bảo lãnh cho một khách hàng thì Ngân hàng vẫn tiến hành thẩm định khách hàng như trong quy trình cho vay đối với một khoản tín dụng (Ngân hàng vẫn phải tiến hành các bước như giám sát, kiểm tra, nghiên cứu trong mỗi hợp đồng). Đây chính là một hình thức tín dụng bằng chữ ký mà các Ngân hàng hiện đại cung cấp cho khách hàng. 3.2.2.Bảo lãnh mở thư tín dụng. Thư tín dụng là hình thức thanh toán quốc tế được sử dụng trong thanh toán hàng hoá xuất nhập khẩu. Thông thường, trong quan hệ trao đổi mua bán hàng hoá với nhau qua biên giới, cả người nhập khẩu và người xuất khẩu đều không hiểu rõ về nhau. Do vậy để thuận tiện cho quá trình thanh toán người ta thường thoả thuận phương thức thanh toán mở thư tín dụng (L/C) – một phương thức thanh toán đơn giản và đảm bảo lợi ích cho các bên. Thực chất thư tín dụng là một tờ lệnh của đơn vị mua hàng gửi đến Ngân hàng phục vụ mình yêu cầu chuyển một số tiền nhất định để thanh toán cho bên bán. Thư tín dụng được mở theo yêu cầu của bên mua, nó là văn bản cam kết trả tiền của bên bán. Về nguyên tắc khi thanh toán bằng thư tín dụng thì khách hàng phải có một tài khoản tại Ngân hàng đó và nhờ Ngân hàng thanh toán hộ.

TÀI LIỆU LUẬN VĂN CÙNG DANH MỤC

TIN KHUYẾN MÃI

  • Thư viện tài liệu Phong Phú

    Hỗ trợ download nhiều Website

  • Nạp thẻ & Download nhanh

    Hỗ trợ nạp thẻ qua Momo & Zalo Pay

  • Nhận nhiều khuyến mãi

    Khi đăng ký & nạp thẻ ngay Hôm Nay

NẠP THẺ NGAY