Xây dựng lại chế định chiếm hữu bằng chất liệu khoa học phù hợp

NỘI DUNG Phân tích, so sánh nội dung của quyền sở hữu và chiếm hữu trong pháp luật các nước, từ cổ tới kim, phân tích căn nguyên của sự bất hợp lý đặc thù trong cơ chế bảo vệ quyền sở hữu đang vận hành ở Việt Nam khi thừa nhận chiếm hữu như là một phần nội dung của quyền sở hữu, người viết yêu cầu phải nhìn nhận lại quan hệ chiếm hữu theo đúng bản chất, là tách quyền chiếm hữu ra khỏi quyền sở hữu và trả nó về vị trí thích hợp trước khi hoàn thiện pháp luật sở hữu. Không biết từ lúc nào, quyền sở hữu ở Việt Nam được phân tích về mặt nội dung thành ba quyền năng: chiếm hữu, sử dụng và định đoạt. Quan niệm ấy được những người soạn thảo Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 1995 và cả BLDS năm 2005 sau này thấm nhuần và trở thành tư tưởng chủ đạo, được quán triệt trong quá trình xây dựng các quy tắc của Bộ luật liên quan đến quyền sở hữu. Chế độ pháp lý về sở hữu ở Việt Nam trở nên đặc thù và điều này khiến cho việc cải cách pháp luật dân sự trong khung cảnh hội nhập, đặc biệt về phần liên quan đến tài sản, là việc không đơn giản. Trở ngại chính đối với việc cải cách là sự khác biệt lớn giữa Việt Nam và các nền văn hoá pháp lý tiêu biểu trong cách hiểu về nội dung của quyền sở hữu, từ đó ảnh hưởng đến cách định vị chế định chiếm hữu trong pháp luật tài sản. 1. Chiếm hữu trong luật các nước 1.1. Luật cổ La Mã Sở hữu và chiếm hữu1. Từ rất sớm, các nhà luật học cổ La Mã đã nhận thức được sự cần thiết phân biệt giữa sở hữu (ownership) và chiếm hữu (possession), như là sự phân biệt giữa nội dung và hình thức của một quan hệ xã hội. Trong một tình huống đặc thù, cả thế giới đứng trước một người đang nắm giữ một vật có giá trị tiền tệ, gọi là một tài sản. Người này có thể là chủ sở hữu đối với tài sản, nhưng cũng có thể là người thuê, mượn tài sản để sử dụng, thậm chí chỉ là người trộm tài sản. Tìm hiểu xem liệu người này có phải là chủ sở hữu, người thuê hay chỉ là một kẻ trộm , về thực chất, là việc phân tích tình trạng pháp lý của người đó trong mối quan hệ với tài sản nắm giữ. Tất nhiên, nếu do kết quả tìm hiểu mà tư cách trộm đạo của đương sự lộ ra, thì nhà chức trách phải can thiệp bằng biện pháp xử lý thích hợp; còn trong những trường hợp khác, mọi việc có thể tiếp diễn bình thường, với điều kiện người nắm giữ tài sản tôn trọng các giới hạn mà pháp luật đặt ra đối với việc thực hiện các quyền của mình. Vấn đề là không phải lúc nào người ta cũng cần tìm hiểu như thế. Đơn giản, mọi người thấy một người đang nắm giữ một tài sản và đang xử sự, trong mối quan hệ với tài sản, theo cung cách của người có quyền năng trên tài sản đó; người ta ghi nhận điều này, nghĩa là ghi nhận sự tồn tại của một thứ quyền năng bề ngoài của người nắm giữ tài sản, rồi cư xử với người đó một cách thích ứng mà không bận tâm đến chuyện người đó có hay không có quyền thực sự đối với tài sản. Người chủ một công trình xây dựng tiến hành thảo luận và thoả thuận với người láng giềng về việc xây dựng như thế nào để người láng giềng không cảm thấy phiền hà; người nhận giữ xe tiếp nhận chiếc xe được người lái đưa vào bãi: người chủ công trình và người giữ xe xử sự như thế, bởi trong mắt họ cũng như trong niềm tin nội tâm của họ, người láng giềng cũng như người lái xe là những người có quyền năng đối với bất động sản lân cận hoặc đối với chiếc xe đó Quyền năng bề ngoài ấy được các nhà luật học La Mã gọi là quyền chiếm hữu, phân biệt với quyền sở hữu, là quyền năng bên trong hay quyền năng pháp lý, đối với tài sản. Về mặt cấu trúc, quyền sở hữu được hình dung là sự hội tụ của ba yếu tố: usus (tạm gọi là dùng), fructus (khai thác sức sinh lợi) và abusus (định đoạt). Trong khi đó quyền chiếm hữu được xây dựng bằng hai tố tố cơ bản: corpus (tạm gọi là yếu tố vật chất) và animus (yếu tố tâm lý) . TÀI LIỆU (1) Có thể xem: F. Terré va Ph. Simler, Droit civil. Les biens, Précis Dalloz, Paris, 1999, tr. 45 và kế tiếp; Ph. Malaurie và Laurent Aynès, Droit civil. Les biens, Cujas, Paris, 1998, tr. 136 và kế tiếp; Lawson và Rudden, The Law of property, Clarendon Presse-Oxford, 1982, tr. 120 và kế tiếp. (2) Luật học phương Tây hiện đại còn coi các hành vi pháp lý như cho thuê, cho mượn, cũng là một phần của corpus: G. Cornu, Droit civil. Introduction. Les personnes. Les biens, Montchrestien, Paris, 1990, tr. 355. (3) Quyền này, một khi được thừa nhận, tồn tại từ thời điểm A xác lập quyền sở hữu đối với toàn bộ bất động sản của mình, trong đó có phần được tranh chấp. Điều này cũng có nghĩa rằng việc trước đây A buộc phải triệt bỏ phần cây cối phát triển trong phần không gian tranh chấp thực sự gây ra cho A một thiệt hại vật chất mà A có quyền yêu cầu bồi thường. Nhưng đó là chuyện khác. (4) Việc tự xưng có thể được thực hiện bằng thái độ ứng xử chứ không nhất thiết bằng lời nói. (5) Trong các điều luật về bảo vệ quyền sở hữu có nhắc đến một nhân vật gọi “người chiếm hữu hợp pháp”. Nhân vật này không xuất hiện trong các điều luật từ 182 đến 191 liên quan đến quyền chiếm hữu. Có ý kiến cho rằng, người chiếm hữu hợp pháp là danh xưng dùng để chỉ người chiếm hữu có căn cứ pháp luật theo Điều 183 và người chiếm hữu không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình theo Điều 189. Tuy nhiên, các biện pháp bảo vệ người chiếm hữu hợp pháp theo Điều 256 (kiện đòi lại tài sản) và Điều 259 (yêu cầu ngăn chặn hoặc chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật đối với việc thực hiện quyền chiếm hữu hợp pháp) là những biện pháp chỉ được thực hiện trên cơ sở kiểm tra tư cách của người chiếm hữu. Một cách hợp lý, một khi người chiếm hữu không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình được thẩm tra tư cách, thì tình trạng chiếm hữu không có căn cứ pháp luật cũng bộc lộ; khi đó, sự ngay tình cũng phải chấm dứt. Bởi vậy, người chiếm hữu hợp pháp được nhắc đến trong các điều luật ấy chỉ có thể là người chiếm hữu có căn cứ pháp luật.

TÀI LIỆU LUẬN VĂN CÙNG DANH MỤC

TIN KHUYẾN MÃI

  • Thư viện tài liệu Phong Phú

    Hỗ trợ download nhiều Website

  • Nạp thẻ & Download nhanh

    Hỗ trợ nạp thẻ qua Momo & Zalo Pay

  • Nhận nhiều khuyến mãi

    Khi đăng ký & nạp thẻ ngay Hôm Nay

NẠP THẺ NGAY