Về yếu tố ưng thuận của hợp đồng

Từ thời cổ đại, Gaius đã nhận định “Phàm nghĩa vụ đều do các khế ước hay các dân sự phạm phát sinh ra”1. Điều đó có nghĩa, hợp đồng là một nguồn gốc quan trọng của nghĩa vụ, mà có thể hiểu: chính nó - nghĩa vụ, là một trọng đề của pháp luật, là một chế định (hay tiểu phân ngành luật) nằm ở vị trí trung tâm của luật tư. Các ngành luật khác ít hay nhiều đều có sự vay mượn các kỹ thuật pháp lý có được từ việc nghiên cứu hợp đồng. Nhấn mạnh hơn tới ý nghĩa pháp lý của hợp đồng, có tác giả định nghĩa hợp đồng là sự thống nhất ý chí nhằm xác lập các nghĩa vụ hay chuyển giao các quyền sản nghiệp (như các quyền đối vật, quyền đối nhân hay quyền sở hữu trí tuệ hay các quyền vô hình khác) từ người này sang người khác2. Có lẽ vì thế, các luật gia trước hết phải có những tri thức căn bản và hệ thống về luật hợp đồng. Các thương nhân, cũng như các nhà kinh tế học cũng cần phải có tri thức về hợp đồng ở mức độ nhất định, bởi “hợp đồng là một bộ phận cấu thành của nền kinh tế thị trường”3. Nhưng trước hết cần phải hiểu hạt nhân quan trọng nhất của hợp đồng là sự ưng thuận. 1. Khái niệm về yếu tố ưng thuận của hợp đồng Bởi hợp đồng từ thời La Mã cổ đại đã được xem là sự đồng thuận hay hiệp ý (consensus)4, cho nên sự ưng thuận của các bên kết ước bao giờ cũng được cho là điều kiện hay thành tố đầu tiên của hợp đồng. Reinhard Zimmermann xác nhận rằng, trong luật hợp đồng hiện đại, ưng thuận là khái niệm hạt nhân5. Khác hơn, Bộ luật Dân sự 2005 của Việt Nam coi năng lực giao kết hợp đồng là yếu tố đầu tiên để áp đặt điều kiện có hiệu lực của hợp đồng, còn yếu tố tự nguyện được xếp ở hàng thứ ba. Trong một chừng mực nhất định có thể nói, năng lực giao kết hợp đồng là một bộ phận hay một phần không thể không xem xét đến của thành tố ưng thuận. Có lẽ vì thế mà Bộ luật Dân sự Tây Ban Nha không đề cập tới năng lực giao kết hợp đồng trong khi nói tới các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng, mà chỉ nói tới nó khi phân tích điều kiện ưng thuận - một điều kiện có hiệu lực đầu tiên của hợp đồng theo Bộ luật này. Học thuyết tự do ý chí - cơ sở triết học của hợp đồng, có một hạt nhân lý luận hợp lẽ là con người chỉ bị ràng buộc bởi ý chí của chính mình. Hợp đồng tạo ra sự ràng buộc. Nên ý chí ràng buộc hay sự ưng thuận ràng buộc phải là yếu tố khởi đầu có tính chất nền tảng cho việc xem xét tới hợp đồng. Ngày nay dường như bất kỳ nước nào xuất phát từ truyền thống pháp luật nào cũng nhìn nhận một cách thích đáng tới yếu tố ưng thuận của hợp đồng. Chẳng hạn Bộ luật Dân sự của Cộng hoà Hồi giáo Iran tuyên bố tại Điều 191 rằng: “Hợp đồng chỉ trở nên toàn vẹn bởi ý chí thực của người kết ước, và ý chí thật này nhất thiết phải được gắn liền với một số yếu tố chứng minh có ý chí như vậy”. Tuyên bố này đã kéo theo một quy chế pháp lý tương ứng cho hợp đồng. Ưng thuận và tự nguyện là các khái niệm sát nghĩa nhau hay hai khái niệm chị em diễn đạt sự hiểu biết và sự tự do6. Ưng thuận có bản chất là một trạng thái tâm lý hay sự mong ước bên trong của chủ thể. Nhưng luật hợp đồng thường quan tâm tới sự phù hợp giữa ưng thuận và sự biểu lộ ra bên ngoài của nó. Các luật gia Việt Nam luôn có ý tưởng thống nhất giữa ý chí và sự thể hiện. Họ cho rằng, mong muốn chủ quan của con người có nội dung được xác định bởi các nhu cầu về sản xuất, tiêu dùng của bản thân, và phải được thể hiện ra bên ngoài dưới một hình thức nhất định để người khác biết. Theo họ, giao dịch phải là sự thống nhất giữa ý chí và sự thể hiện, và nếu thiếu đi sự thống nhất này thì có thể vô hiệu7. Brian H. Bix phân tích, trong lĩnh vực hợp đồng, ưng thuận có hai thành tố chủ yếu. Đó là sự hiểu biết và sự lựa chọn hợp lý8. Hai thành tố này cần được đánh giá khi xem xét sự ưng thuận về một hậu quả pháp lý nhất định. Một số luật gia Nhật Bản xuất phát từ khoa học tâm lý đi tới nhận định, ý chí được biểu lộ ra bên ngoài cần phải được xem xét ở ba thành tố: thứ nhất, mong muốn tạo lập một hậu quả nhất định; thứ hai, mong muốn biểu lộ liên quan tới hậu quả đó; và thứ ba, quá trình biểu lộ sự mong muốn đó9. Các phân tích này cho chúng ta một gợi ý về cách thức tìm ra sự hữu hiệu của việc biểu lộ ý chí. Muốn xem xét đến việc biểu lộ ý chí hữu hiệu cần phải trả lời ba câu hỏi: Đương sự có mong muốn tạo lập ra một hậu quả pháp lý cụ thể không? Mong muốn đó được biểu lộ ra bên ngoài như thế nào? Và quy trình biểu lộ sự mong muốn đó ra làm sao? Việc trả lời được ba câu hỏi này cùng với sự đối chiếu với các quy định pháp luật kiểm soát yếu tố ưng thuận là tiền đề cho việc nhận định sự biểu lộ ý chí đó có đem lại hậu quả pháp lý hay không trong thực tế.

TÀI LIỆU LUẬN VĂN CÙNG DANH MỤC

TIN KHUYẾN MÃI

  • Thư viện tài liệu Phong Phú

    Hỗ trợ download nhiều Website

  • Nạp thẻ & Download nhanh

    Hỗ trợ nạp thẻ qua Momo & Zalo Pay

  • Nhận nhiều khuyến mãi

    Khi đăng ký & nạp thẻ ngay Hôm Nay

NẠP THẺ NGAY