Tiêu chí và yếu tố bảo đảm hiệu quả tính đại diện của Quốc hội

PHẦN NỘI DUNG 1. Đại diện là “sứ mệnh” của Nghị viện/Quốc hội - sứ mệnh bao trùm lên hoạt động lập pháp, giám sát và các hoạt động khác của Quốc hội Trong lịch sử hình thành và phát triển của Nghị viện/Quốc hội, một thời gian dài, chức năng lập pháp được xác định là chức năng quan trọng duy nhất của Nghị viện/Quốc hội1. Sau đó, ở nhiều nước, cùng với lập pháp, giám sát trở thành chức năng chính của Nghị viện/Quốc hội2. Cho đến nay, chức năng của Nghị viện/Quốc hội cũng chưa được nhận thức thống nhất. Ở phương Tây, người ta cho rằng, Nghị viện/Quốc hội có ba chức năng chính: chức năng lập pháp, chức năng giám sát và chức năng đại diện3. Ở Việt Nam, có ý kiến cho rằng, Quốc hội có chức năng và nhiệm vụ phục vụ cho lợi ích chung của nhân dân và dân tộc, nói lên tiếng nói của nhân dân, thể hiện ý chí nguyện vọng của nhân dân cả nước4; có ý kiến nhấn mạnh chức năng lập pháp, nhưng cho rằng, ngoài chức năng lập pháp, Quốc hội còn thực hiện nhiều chức năng khác5. Có lẽ phổ biến nhất hiện nay là quan điểm cho rằng, Quốc hội Việt Nam có ba chức năng: chức năng lập pháp, chức năng quyết định những vấn đề trọng đại của đất nước và chức năng giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước6. Không loại trừ nguyên nhân do chưa thống nhất về mặt thuật ngữ, nhưng rõ ràng, hiện nay vẫn chưa có sự nhận thức chính xác và thấu đáo về tính đại diện của thiết chế Nghị viện/Quốc hội. Và như vậy, tất yếu dẫn đến một hệ quả là vai trò của Nghị viện/Quốc hội trong bộ máy nhà nước chưa được đặt đúng vị trí của nó. Các đại biểu do nhân dân trực tiếp bầu ra, thì đương nhiên họ là người đại diện cho nhân dân. Có lẽ vì bầu cử Nghị viện/Quốc hội ra đời sớm và phổ biến hơn so với bầu cử các chức danh trong hành pháp và tư pháp, nên thuật ngữ cơ quan đại diện hiện nay được sử dụng với nghĩa phổ biến là chỉ Nghị viện/Quốc hội. Tính đại diện của thiết chế này gắn liền với chức năng lập pháp - chức năng khởi thủy khi sinh ra nó - và đại diện là trung tâm của các lý do vì sao Nghị viện/Quốc hội tồn tại7, là tiêu chí đầu tiên khi đề cập đến Nghị viện/Quốc hội8. Thời kỳ đầu khi Nghị viện/Quốc hội ra đời, lập pháp thường được xác định là một chức năng duy nhất của thiết chế này, lúc đó có thể có quan niệm đồng nhất giữa tính đại diện với chức năng lập pháp. Sau đó, lập pháp không còn là chức năng duy nhất, khi những chức năng khác, như giám sát, hành pháp hay quyết định ngân sách quốc gia lần lượt ra đời, thì việc đồng nhất giữa tính đại diện với chức năng lập pháp không còn chính xác nữa. Do vậy, quan điểm coi chức năng đại diện tồn tại bên cạnh chức năng lập pháp, chức năng quyết định những vấn đề trọng đại của đất nước, chức năng giám sát9 cần được bàn luận thấu đáo. Nếu coi đại diện là chức năng của Nghị viện/Quốc hội, thì chức năng này không thể xếp “cùng hàng” với chức năng lập pháp, quyết định những vấn đề trọng đại của đất nước và giám sát tối cao. Logic của vấn đề là ở chỗ: Nghị viện/Quốc hội là thiết chế đại diện cho nhân dân để thực hiện quyền lập pháp; đại diện cho nhân dân để quyết định những vấn đề trọng đại của đất nước; đại diện cho nhân dân để giám sát tối cao, do đó, đại diện phải là thuộc tính bao trùm, chi phối các hoạt động lập pháp, quyết định những vấn đề trọng đại của đất nước và giám sát tối cao. “Chức năng đại diện cần phải được coi là trung tâm, quyết định sự tồn tại và phát triển của các Nghị viện/Quốc hội nói chung. Nếu chức năng đại diện không được chú trọng thì các chức năng khác của Nghị viện/Quốc hội như lập pháp, quyết định những vấn đề cơ bản và giám sát khó có thể vận hành tốt, vì khi đó, ý chí của người dân và lợi ích của họ khó có thể được phản ánh một cách đúng đắn trong các quyết sách của Nghị viện/Quốc hội”10. Có quan điểm cho rằng, nếu coi đại diện là chức năng của Nghị viện/Quốc hội, thì lập pháp được gọi là vai trò của thiết chế này. Ở hầu hết các quốc gia, lập pháp là vai trò chính và vai trò của Nghị viện/Quốc hội có thể được mở rộng hơn ở một số nước, như giám sát hành pháp, thông qua ngân sách. Tuy nhiên, tất cả các vai trò, dù là vai trò chính - lập pháp - hay các vai trò được mở rộng sau này như giám sát hành pháp, đều phải xuất phát từ chức năng đại diện11 và việc thực thi các vai trò là góp phần thực hiện chức năng đại diện của Nghị viện/Quốc hội. TÀI LIỆU (1)Văn phòng Quốc hội Việt Nam - Chương trình Phát triển Liên hiệp quốc, Thiết chế Nghị viện - Những khái niệm cơ bản, © Bản quyền của Chương trình Phát triển Liên hiệp quốc - Việt Nam, Dự án VIE/02/007, Hà Nội - Việt Nam 2005, tr. 5. (2)Văn phòng Quốc hội Việt Nam - Chương trình Phát triển Liên hiệp quốc, tlđd, tr. 22. (3)PGS, TS. Bùi Xuân Đức, Nhận thức về chức năng đại diện và thực hiện chức năng đại diện của Quốc hội, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 2(117), tháng 2/2008, tr. 5. (4) Xem: PTS. Phan Trung Lý, Giáo trình Luật Nhà nước Việt Nam - Khoa Luật, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, Hà Nội, 1994, tr. 272. (5) PGS, TS. Nguyễn Đăng Dung, Giáo trình Luật Hiến pháp Việt Nam (PGS, TS. Bùi Xuân Đức Chủ biên) - Khoa Luật, Viện Đại học mở Hà Nội, Nxb. Tư pháp, Hà Nội, 2004, tr. 278. (6) Phạm Đức Bảo, Giáo trình Luật Hiến pháp Việt Nam (PGS.TS. Thái Vĩnh Thắng, TS. Vũ Hồng Anh đồng Chủ biên) - Trường Đại học Luật Hà Nội, Nxb. Tư pháp, Hà Nội, 2006, tr. 336; Nguyễn Thanh Bình, Giáo trình Luật Hiến pháp Việt Nam (PGS, TS. Bùi Xuân Đức, PGS, TS. Võ Khánh Vinh đồng Chủ biên) - Trung tâm đào tạo từ xa, Đại học Huế, Huế, 1997, tr. 257; PGS, TS Bùi Xuân Đức, sđd. (7) Văn phòng Quốc hội Việt Nam- Chương trình Phát triển Liên hiệp quốc, tlđd, tr.28. (8)“The first criterion of a democratic parliament is that it should be representative of the people. In the first instance this means that parliament should reflect the popular will as expressed in the choices electors make for their representatives and for the political parties in whose name they stand ”. Xem: David Beetham, Parliament and Democracy in the twenty-first Century a Guide to Good Practice, Inter-Parliamentary Union , 2006, tr. 13. Mark Freeman, Making reconciliation work: the role of parliaments, International IDEA/ IPU, 2005, tr. 10. (9) Văn phòng Quốc hội Việt Nam- Chương trình Phát triển Liên hiệp quốc, Tlđd. (10) PGS.TS Bùi Xuân Đức, tlđd, tr.8. (11)Mark Freeman (2005), Making reconciliation work: the role of parliaments, International IDEA/ IPU, 2005, tr. 10. (12) Hiện nay vẫn có một số quốc gia, Nghị viện (thường là Thượng nghị viện) không được hình thành bằng con đường bầu cử, như Thượng nghị viện Anh chẳng hạn. (13) Có thể xem thêm:Vũ Văn Nhiêm, “Pháp luật bầu cử - nhìn từ góc độ bảo đảm tính tự do công bằng cạnh tranh và tính đại diện”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 4(228) /2007, tr.3-18. (14) Andrew Reynolds, Ben Reilly and Andrew Ellis With José Antonio Cheibub, Karen Cox, Dong Lisheng, Jørgen Elklit, Michael Gallagher, Allen Hicken, Carlos Huneeus, Eugene Huskey, Stina Larserud, Vijay Patidar, Nigel S. Roberts, Richard Vengroff, Jeffrey A. Weldon, “Electoral System Design: The New International IDEA Handbook”© International Institute for Democracy and Electoral Assistance 2005, tr. 9. (15) Vũ Văn Nhiêm, “Một số vấn đề về cách thức xác định kết quả bầu cử trong pháp luật bầu cử của nước ta hiện nay”, Thông tin khoa học pháp lý, Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh, số 2, 1999, tr. 23, 24. (16) Xem thêm: Vũ Văn Nhiêm, “Pháp luật bầu cử - nhìn từ góc độ bảo đảm tính tự do công bằng cạnh tranh và tính đại diện”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 4(228) /2007, tr. 3-18. (17)David Beetham, Parliament and Democracy in The twenty-first Century A Guide To Good Practice, Inter-Parliamentary Union , 2006, tr. 7. (18) David Beetham, Parliament and Democracy in The twenty-first Century A Guide To Good Practice, Inter-Parliamentary Union , 2006, tr. 7. (19) Điều 26, Hiến pháp Cộng hòa Pháp ngày 4/10/1958. (20)Phạm Duy Nghĩa, “Cải cách thể chế ở Việt Nam từ góc nhìn xác lập trách nhiệm giải trình”, Tạp chí Khoa học pháp lý, số 2(45)/2008, tr. 5. (21) Đây là quan điểm theo nguyên tắc ủy quyền mệnh lệnh. Chú ý rằng liên quan đến vấn đề ủy quyền, có hai loại quan điểm phổ biến: Thứ nhất, nguyên tắc ủy quyền mệnh lệnh: cử tri thông qua bầu cử trao cho các đại biểu ủy nhiệm thư, đồng thời có quyền bãi nhiệm đại biểu nếu họ không thực hiện hoặc không thực hiện tốt ủy nhiệm thư. Lênin cho rằng, bằng hình thức đó, chế độ dân chủ đại diện mới thực sự dân chủ và cơ quan đại diện mới thực sự đại diện cho ý chí của nhân dân. Nhân dân ủy quyền cho các đại biểu thực hiện quyền lập pháp, đồng thời yêu cầu các đại biểu thực hiện quyền lập pháp phù hợp với ý chí của nhân dân. Thứ hai, theo các học giả ủng hộ chế độ đại nghị, nghị sĩ không chỉ đại diện cho cử tri bầu ra họ, mà còn đại diện cho toàn thể dân tộc. Sự ủy quyền này gọi là ủy quyền tự do. Theo nguyên tắc ủy quyền này, nghị sĩ là người đại diện cho toàn thể nhân dân, không một ai có thể trao cho các đại biểu ủy nhiệm thư, do đó, họ không phụ thuộc vào cử tri và không bị cử tri bãi nhiệm. Đại biểu hoạt động theo pháp luật và theo sự nhận thức của mình để thông qua những quyết định. (22) Bùi Ngọc Sơn, Gió thổi khắp mặt đất - “Quan dân” để lập pháp, http://www.nclp.org.vn/tieu_diem/gio.-111e-lap-phap (23) Điều 24, Hiến pháp Cộng hòa Pháp ngày 4/10/1958. (24)Alan Wall, Arlinda Chantre, Brett Lacy, Catinca Slavu, Dieter Nohlen, Epp Maaten, Florian Grotz, Graham Hassall,Jacobo, Hernández Cruz, Jeff Fischer, Jon Fraenkel, Judy Thompson, Kåre Vollan, Leticia Calderón, Linda Edgeworth, Luis Arias Núñez, Manuel Carrillo, Marina Costa Lobo, Nada Hadzimehic, Nuias Silva, Nydia Restrepo de Acosta, Ozias Tungwarara, Pasquale Lupoli, Patrick Molutsi, Phil Green, Reginald Austin, Richard Vengroff, Simon-Pierre Nanitelamio, Stina Arserud (2007), Voting from Abroad: The International IDEA Handbook, © International Institute for Democracy and Electoral Assistance 2007, © The Federal Electoral Institute of Mexico 2007(Instituto Federal Electoral, IFE), tr. 29. (25) Văn phòng Quốc hội, Luật bầu cử Quốc hội của một số nước trên thế giới, Trung tâm Thông tin thư viện và nghiên cứu khoa học, tháng 6/2001, tr.64. (26) Điều 2, Hiến pháp 1992 (sửa đổi 2001) quy định “ Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức”. (27) Tiêu chí cơ cấu trong các kỳ bầu cử, nhất là trong các kỳ bầu cử gần đây ở nước ta thông thường là: Trong đảng, ngoài đảng; khối trung ương, khối địa phương; lứa tuổi; giới tính; dân tộc; quốc doanh, dân doanh (28) Điều 9 quy định “Căn cứ vào số lượng đại biểu Quốc hội quy định tại Điều 8 của Luật này, căn cứ vào nhiệm vụ và quyền hạn của Quốc hội, để bảo đảm tỷ lệ đại diện hợp lý của các tầng lớp nhân dân trong Quốc hội, sau khi trao đổi ý kiến với Ban thường trực Uỷ ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và đại diện các tổ chức chính trị - xã hội, chậm nhất là chín mươi lăm ngày trước ngày bầu cử, Uỷ ban thường vụ Quốc hội dự kiến về:1- Cơ cấu, thành phần đại biểu Quốc hội; 2- Số lượng đại biểu Quốc hội được bầu của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, lực lượng vũ trang nhân dân, cơ quan nhà nước ở trung ương và địa phương”. (29)Chỉ thị số 31/CT –TW ngày 26/11/2003 của Bộ Chính trị về lãnh đạo cuộc bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2004-2009. Quyết định số 49/QĐ-TTg ngày 8/1/2004 của Thủ tướng Chính phủ về việc hướng dẫn tiêu chuẩn, cơ cấu đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2004-2009. (30) TS. Bùi Ngọc Thanh, Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XII- Những vấn đề từ thực tiễn, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, Số 7(103), Tháng 7/2007, tr. 21, 22. (31) Nguyễn Lân Dũng, Đại biểu Quốc hội – Suy nghĩ từ một nhiệm kỳ, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 22(96), tháng 4/2007, tr.20. (32) Bầu cử ở Mỹ năm 2004, Trung tâm thông tin tư liệu, Phòng văn hóa thông tin, Tổng lãnh sự quán Hoa Kỳ tại TP. Hồ Chí Minh, tr. 4. (33) Andrew Reynolds, Ben Reilly and Andrew Ellis With José Antonio Cheibub, Karen Cox, Dong Lisheng, Jørgen Elklit, Michael Gallagher, Allen Hicken, Carlos Huneeus, Eugene Huskey, Stina Larserud, Vijay Patidar, Nigel S. Roberts, Richard Vengroff, Jeffrey A. Weldon, “Electoral System Design: The New International IDEA Handbook”© International Institute for Democracy and Electoral Assistance 2005, tr. 91-103. (34) Có thể xem thêm: Vũ Văn Nhiêm, “Pháp luật bầu cử - nhìn từ góc độ bảo đảm tính tự do công bằng cạnh tranh và tính đại diện”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 4(228) /2007, tr.3-18. (35) TS. Bùi Ngọc Thanh, tlđd, tr. 18, 19. (36) TS. Bùi Ngọc Thanh, tlđd, tr. 18, 19. (37) Bùi Ngọc Sơn, tlđd. (38) TS. Đặng Đình Tân (Chủ biên), Nhân dân giám sát các cơ quan dân cử ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội -2006, trang 213,214, 215.

TÀI LIỆU LUẬN VĂN CÙNG DANH MỤC

TIN KHUYẾN MÃI

  • Thư viện tài liệu Phong Phú

    Hỗ trợ download nhiều Website

  • Nạp thẻ & Download nhanh

    Hỗ trợ nạp thẻ qua Momo & Zalo Pay

  • Nhận nhiều khuyến mãi

    Khi đăng ký & nạp thẻ ngay Hôm Nay

NẠP THẺ NGAY