Thực trạng và vướng mắc về hôn nhân có yếu tố nước ngoài tại TP Hồ Chí Minh

TÌNH HÌNH CHUNG 1. Về kết hôn Từ năm 1993 đến 2004, thành phố Hồ Chí Minh đă đăng ký 46. 914 trường hợp kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài và người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc trên 55 quốc gia khác nhau. Phần lớn là các trường hợp kết hôn giữa công dân ở trong nước với người nước ngoài và kết hôn giữa công dân Việt Nam với người Việt Nam định cư ở nước ngoài (99,61%), cụ thể là: 􀂃 Kết hôn giữa công dân Việt Nam trong nước với người nước ngoài chiếm 40,82% 􀂃 Kết hôn giữa công dân Việt Nam trong nước với người Việt Nam định cư ở nước ngoài là 58,79% 􀂃 Kết hôn giữa công dân Việt Nam với người không quốc tịch đang sinh sông, thường trú tại thành phố và là công dân của nước có chung biên giới với Việt Nam có 49 trường hợp (chiếm 0.39%). Đặc biệt, trong những năm qua chỉ có 03 trường hợp đăng ký kết hôn giữa người nước ngoài với nhau đang sinh sống, làm việc tại thành phố. Đối tượng đa số là phụ nữ Việt Nam ở trong nước lấy chồng nước ngoài hoặc chồng là người Việt Nam định cư tại nước ngoài chiếm 92%, trong đó có 13 318 trường hợp kết hôn với Việt Nam ở trong nước lấy chồng Trung Quốc (Đài Loan) giảm dần, nhưng ngược lại phụ nữ Việt Nam lấy chồng là người Hàn Quốc có xu hướng tăng lên rõ rệt. Về quốc tịch của người nước ngoài, quốc gia mà công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài đang cư trú có 55 quốc gia và vùng lãnh thổ có công dân là chủ thể tham gia vào quan hệ hôn nhân với công dân Việt Nam, phân bố theo 3 khu vực chính : 􀂃 Khu vực các nước có nhiều người Việt Nam định cư ở nước ngoài gồm: Hoa Kỳ, Pháp, Úc, Canada chiếm 51,57% 􀂃 Kết hôn với nam công dân Trung Quốc (Đài Loan) chiếm 35,63% 􀂃 Các quốc gia khác chiếm 8,8%. Về nhân thân: Độ tuổi kết hôn của phụ nữ Việt Nam lấy chồng nước ngoài không có sự khác biệt lớn. Tuy nhiên, ở các cặp vợ chồng Đài – Việt tuổi kết hông của phụ nữ Việt Nam còn rất trẻ, có độ tuổi chênh lệch với chồng từ 10 tuổi đến 20 tuổi chiếm 54,69%. Thành phần dân tộc: Kinh chiếm 61,20%, dân tộc Hoa chiếm 38,58%. 2. Về ly hôn: Theo thống kê của Tòa án nhân dân thành phố từ 1998 đến 2001, đã thụ lý 3487 vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài, năm sau đều cao hơn năm trước. Đa số các việc ly hôn do công dân Việt Nam trong nước đứng nguyên đơn và việc xét xử thường là vắng mặt bên phía nước ngoài. Nội dung giải quyết hầu hết giải quyết quan hệ hôn nhân, không yêu cầu giải quyết vấn đề con chung hoặc tài sản, có lẽ do các bên nhận thấy nếu giải quyết thì cũng khó thi hành nên không yêu cầu. Khó khăn khi giải quyết ly hôn là xác định tình trạng hôn nhân có hậu quả mâu thuẫn trầm trọng để làm căn cứ cho ly hôn vì việc điều tra phía nước ngoài có nhiều hạn chế, ủy thác tư pháp không có kết quả. Nguyên nhân ly hôn thường do cá tính không phù hợp, phong tục, tập quán, ngôn ngữ, lối sống có sự khác biệt. Đặc biệt với hôn nhân Đài – Việt nguyên nhân xuất phát từ những cuộc kết hôn vội vã; không tìm hiểu, có mục đích kinh tế, không có con . Đối với trường hợp bên nguyên đơn ở nước ngoài yêu cầu ly hôn với bị đơn ở trong nước, có bị đơn không đồng ý ly hôn mà yêu cầu bên nguyên đơn phải có mặt mới đồng ý giải quyết quan hệ hôn nhân, họ đồng thời có yêu cầu cấp dưỡng khi ly hôn vì lý do khó khăn về đời sống, yêu cầu này rất khó giải quyết vì không có điều kiện xác định tình trạng tài chính, mức thu nhập của bên ở nước ngoài. Cũng có không ít trường hợp ly hôn là do mục đích kết hôn nhằm bảo lãnh xuất cảnh ra nước ngoài, nhưng sau đó việc bảo lãnh không thực hiện được, họ phải chấm dứt quan hệ hôn nhân để ổn định cuộc sống.

TÀI LIỆU LUẬN VĂN CÙNG DANH MỤC

TIN KHUYẾN MÃI

  • Thư viện tài liệu Phong Phú

    Hỗ trợ download nhiều Website

  • Nạp thẻ & Download nhanh

    Hỗ trợ nạp thẻ qua Momo & Zalo Pay

  • Nhận nhiều khuyến mãi

    Khi đăng ký & nạp thẻ ngay Hôm Nay

NẠP THẺ NGAY