Thử nghiệm nuôi trứng heo in vitro

Tóm tắt. Nhân bản vô tính (cloning) đã ra đời từ khá lâu là một kỹ thuật không còn xa lạ với công nghệ y sinh học ngày nay. Từ đó có rất nhiều phương pháp để nâng cao hiệu quả nhân bản nói chung và nhân bản heo nói riêng, trong đó có phương pháp IVM (in vitro maturation) là phương pháp dùng để nuôi chín trứng trong ống nghiệm với tỉ lệ chín trứng cao và đạt chất chất lượng trứng tốt. Ở đây tôi sử dụng TCM – 199: môi trường nuôi chín trứng, sử dụng môi trường thương mại do Nhật sản xuất, thành phần gồm các muối vô cơ cùng một số acid amin. Để nâng cao hiệu quả nuôi chín trứng, ở đề tài này tôi sử dụng đĩa 4 ngăn thay vì đĩa 4 giếng. Trong đĩa 4 giếng, mỗi vi giọt có thể tích 100µl, nuôi từ 10-15 trứng với tổng số trứng nuôi là 791, số trứng chín 422 chiếm 52,26±6,27(%). Trong đĩa 4 ngăn, mỗi vi giọt có thể tích 10µl, nuôi 1 trứng với tổng số trứng nuôi là 770, số trứng chín 447 chiếm tỉ lệ 58,40±5,50(%). Với tỉ lệ trứng chín này nếu có điều kiện tôi sẽ tiến hành bước tiếp theo tạo phôi heo. Từ khóa: TCM-199, pig cloning, IVM. 1. Mở đầu Heo là đối tượng thực hiện nhân bản vô tính có nhều tiềm năng ứng dụng trong thực tiễn như tạo ra những đàn heo nhiều thịt, ít mỡ, chất lượng cao; với độ tương đồng về cơ quan rất cao so với người, heo là đối tượng lý tưởng cho việc cung cấp các cơ quan dị ghép cho người, thông qua việc biến đổi di truyền ( kết hợp với knock-out gen gây phản ứng thải loại trong dị ghép giúp tạo ra những cơ quan sẵn sang phục vụ cho quá trình dị ghép); hay tạo heo mang gen người sản xuất các protein người trong thịt hay sữa. Ngoài ra, còn giúp bảo tồn giống lợn ỉ quý hiếm đang có nguy cơ tuyệt chủng. Đây còn là tiền đề để tiếp tục phát triển kỹ thuật nhân bản ở các loài khác, cung cấp nguồn tế bào gốc đầy tiềm năng từ phôi nhân bản. Công đoạn đầu tiên của nhân bản heo là nuôi chín trứng heo trong ống nghiệm. Ngoài các yếu tố nhiệt độ, lưu lượng khí thì môi trường là thành phần quan trọng ảnh hưởng đến kết quả nuôi chín trứng. Trong luận văn này tôi sử dụng môi trường nuôi chín trứng là TCM-199. Môi trường phức tạp TCM-199 đệm bicarbonate hoặc HEPES và có bổ sung các loại huyết thanh khác nhau và/ hoặc gonadotropin và/hoặc hormone steroid là môi trường nuôi cấy mô được sử dụng rộng rãi trong các nghiên cứu nuôi trứng heo chín nhân tạo. Các tế bào sinh dưỡng nang có mặt trong môi trường có thể ảnh hưởng đến khả năng của trứng. Ở đây, tôi khảo sát ảnh hưởng của đặc tính đĩa nuôi trong quá trình IVM, đó là sử dụng loại đĩa khác: đĩa 4 ngăn và thể tích giot nuôi cùng số trứng trong một cũng khác. Tỷ lệ trứng chín khi nuôi trên đĩa 4 giếng là 52,26 ± 6,27% cao hơn so với tác giả Huỳnh Thị Lệ Duyên (2003) là 16% nhưng lại thấp hơn so với các tác giả Mariana Groke Marques và cs., (2006) là 65%; Kazuhiro và cs., (1999) là 68%. Kết quả xử lý thống kê cho thấy khi thực hiện IVM trong đĩa 4 ngăn ta thu được tỷ lệ trứng chín đạt được nhiều hơn và sự đạt được này có ý nghĩa thống kê. Do đó, tôi thực hiện IVM trong đĩa 4 ngăn để chuẩn bị nguồn trứng cho thao tác. Tham khảo các kết quả từ các tài liệu liên quan đến nuôi chín trứng cho nhân bản và kết quả thực nghiệm từ sinh viên Lâm Tuấn Anh cho thấy môi trường có bổ sung hormone (PMSG và hGC), kết hợp với chuyển trứng sau 20-22 giờ nuôi, cho tỷ lệ trứng chín cao (73,74 ± 6,24%), chín về nhân và tốt về hình thái của tế bào chất. Do đó, chúng tôi sử dụng kết hợp cách nuôi trong đĩa 4 ngăn, thay đổi thành phần trong môi trường nuôi ( bổ sung PMSG và hGC) cùng với việc chuyển trứng sau 20-22 giờ nuôi, để chuẩn bị nguồn trứng tốt cho chuyển nhân.

TÀI LIỆU LUẬN VĂN CÙNG DANH MỤC

TIN KHUYẾN MÃI

  • Thư viện tài liệu Phong Phú

    Hỗ trợ download nhiều Website

  • Nạp thẻ & Download nhanh

    Hỗ trợ nạp thẻ qua Momo & Zalo Pay

  • Nhận nhiều khuyến mãi

    Khi đăng ký & nạp thẻ ngay Hôm Nay

NẠP THẺ NGAY