Phá sản doanh nghiệp có yếu tố nước ngoài

Trước hết, chúng ta cần tìm hiểu các thuật ngữ sau: « Phá sản doanh nghiệp» là thuật ngữ vừa chỉ tình trạng một con nợ không có khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn vừa chỉ thủ tục xử lý phá sản nhằm giải quyết tình trạng khó khăn đó trên cơ sở một quyết định của cơ quan hành chính hoặc của tòa án. Hiện nay, nghĩa thứ hai của thuật ngữ này không còn được sử dụng trong pháp luật hiện đại đặc biệt là trong pháp luật Pháp. Thay vì sử dụng thuật ngữ "phá sản", người ta thường sử dụng các thuật ngữ khác như « thủ tục giải quyết tình trạng mất khả năng thanh toán», « phục hồi hoặc thanh lý doanh nghiệp » hoặc « thủ tục giải quyết nợ tập thể ». Hiện nay thuật ngữ này còn mang một ý nghĩa mới, nó chỉ một biện pháp áp dụng đối với cá nhân chủ doanh nghiệp, theo đó chủ doanh nghiệp sẽ không được phép tham gia hoạt động thương mại hoặc tham gia lãnh đạo doanh nghiệp. Tuy nhiên, tư pháp quốc tế vẫn tiếp tục sử dụng thuật ngữ "phá sản" bởi vì thuật ngữ này đơn giản và dễ được thừa nhận ở nước ngoài. Theo nghĩa hẹp, phá sản « có yếu tố nước ngoài » là trường hợp con nợ bị lâm vào tình trạng phá sản có tài sản ở nhiều nước. Theo nghĩa rộng, thuật ngữ « phá sản có yếu tố nước ngoài » được sử dụng đối với những trường hợp phá sản mà có bất kỳ yếu tố nước ngoài nào như: doanh nghiệp có hoạt động ở ngoài lãnh thổ quốc gia dù cho hoạt động đó không có sự hỗ trợ của tài sản hoặc trường hợp chủ nợ của doanh nghiệp ở nước ngoài. Tư pháp quốc tế về phá sản rất phức tạp. Những thay đổi của ngành luật này trong thời gian vừa qua không làm cho nó đơn giản hơn. Trước hết, phức tạp bởi vì nguồn của tư pháp quốc tế về phá sản rất phức tạp. Ví dụ: trong pháp luật Pháp, nguồn của ngành luật này rất nhiều, cụ thể: 􀂃 Án lệ : Cho đến thời gian gần đây, án lệ, đặc biệt là án lệ của Tòa án Tư pháp tối cao (Tòa dân sự và thương mại) gần như là nguồn chủ yếu của tư pháp quốc tế về phá sản doanh nghiệp. Xuất hiện nhiều ở thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, sau một thời gian vắng bóng, đến giữa những năm 1980, án lệ lấy lại vị trí của mình. Trong pháp luật Pháp, án lệ tạo thành các quy định chung của tư pháp quốc tế về phá sản. 􀂃 Các văn bản pháp luật trong nước: Ở Pháp, có rất ít văn bản pháp luật về vấn đề này. Nhìn chung, nhà làm luật của Pháp ít khi đề cập đến những vấn đề có tính chất kỹ thuật liên quan đến những xung đột pháp luật và xung đột thẩm quyền xét xử về phá sản doanh nghiệp. Tuy nhiên, cũng có một số văn bản trong lĩnh vực này như điều 52, khoản 2 Luật ngày 25 tháng 1 năm 1985 về thủ tục phục hồi và thanh lý doanh nghiệp, đã được pháp điển hóa thành điều L. 621-44 Bộ luật Thương mại về các khoản nợ bằng ngoại tệ hoặc điều 1, khoản 1 Nghị định ngày 27 tháng 12 năm 1985 hướng dẫn thi hành Luật năm 1985. Nghị định này quy định cụ thể các tiêu chí xác định thẩm quyền theo lãnh thổ của Tòa án trong nước trong việc mở thủ tục giải quyết phá sản tại Pháp, thực tế đó cũng là thẩm quyền quốc tế của Tòa án. 􀂃 Các văn bản của Liên minh Châu Âu: Nước Pháp là một thành viên của Liên minh Châu Âu Với tư cách đó, trước hết nước Pháp chịu sự điều chỉnh của Nghị định (CE) số 1346/2000 của Hội đồng Liên minh Châu Âu ngày 29 tháng 5 năm 2000 về thủ tục giải quyết tình trạng mất khả năng thanh toán, áp dụng từ ngày 31 tháng 5 năm 2002 đối với các nước thành viên của Liên mình Châu Âu trừ Đan Mạch. Nghị định của Liên minh Châu Âu được áp dụng trực tiếp tại các nước thành viên mà không cần qua thủ tục chuyển hóa vào pháp luật quốc gia. Theo phụ lục A của Nghị định, thủ tục thanh lý và phục hồi doanh nghiệp có thể được thực hiện ở Pháp. Trong trường hợp tiến hành phục hồi doanh nghiệp tại Pháp thì phải chỉ định một người điều hành thủ tục. Cũng với tư cách là thành viên Liên minh Châu Âu, nước Pháp nằm trong đối tượng điều chỉnh của các Chỉ thị của Liên minh Châu Âu (Luật khung). Đối với các Chỉ thị của Liên minh Châu Âu, nước Pháp phải tiến hành chuyển hóa vào nội luật. Trong lĩnh vực phá sản, có nhiều văn bản quy định riêng đối với từng loại doanh nghiệp: Chỉ thị số 2001/17 (CE) ngày 19 tháng 3 năm 2001 về thủ tục phục hồi và thanh lý doanh nghiệp bảo hiểm. Chỉ thị này được chuyển hóa vào nội luật bằng Pháp lệnh số 2004-504 ngày 7 tháng 6 năm 2004 và Nghị định số 2005-8 ngày 5 tháng 1 năm 2005. Chỉ thị số 2001/24 (CE) ngày 4 tháng 4 năm 2001 về thủ tục phục hồi và thanh lý các cơ sở tín dụng. Chỉ thị này được chuyển hóa vào nội luật bằng Pháp lệnh số 2004- 1127 ngày 21 tháng 10 năm 2004. Các Công ước quốc tế. Hiện nay, chưa có công ước đa phương nào trong lĩnh vực phá sản doanh nghiệp, chỉ có 4 Hiệp định song phương mà nước Pháp đã ký kết trong đó có một số quy định cụ thể về phá sản. Ba trong số 4 Hiệp định đó gần như đã được thay thế bởi Nghị định số 1346/2000 (3 Hiệp định đó gồm: Hiệp định Pháp-Bỉ, ngày 8 tháng 7 năm 1899, Hiệp định Pháp-Ý ngày 3 tháng 6 năm 1930 gồm 2 Thỏa thuận hợp tác tư pháp có nội dung rộng hơn trong đó có vấn đề phá sản doanh nghiệp, Hiệp định Pháp-Áo ngày 27 tháng 2 năm 1979 chỉ xử lý vấn đề phá sản doanh nghiệp). Hiệp định thứ 4 ngày 15 tháng 9 năm 1950 được ký kết giữa Pháp và Monaco cũng chỉ xử lý vấn đề phá sản doanh nghiệp. Ngược lại, luật mẫu về tình trạng mất khả năng thanh toán có yếu tố nước ngoài do Ủy ban của Liên Hợp quốc về luật thương mại quốc tế (UNCITRAL) soạn thảo và được thông qua ngày 30 tháng 5 năm 1997 không có ảnh hưởng đối với pháp luật Pháp. Tư pháp quốc tế về phá sản doanh nghiệp rất phức tạp còn bởi các quan điểm về vấn đề này thường đối lập nhau và việc lựa chọn một quan điểm nào đó không phải là một việc dễ dàng. Trong lĩnh vực này, xét về hệ quả pháp lý của thủ tục phá sản hiện có 2 quan điểm đối lập nhau: 􀂃 Quan điểm thứ nhất cho rằng thủ tục phá sản doanh nghiệp mang tính thống nhất và có hiệu lực trên phạm vi toàn cầu. Theo quan điểm này chỉ cần mở 1 thủ tục phá sản tại trụ sở chính của doanh nghiệp mắc nợ và thủ tục này sẽ có hiệu lực ở tất cả những nơi mà doanh nghiệp mắc nợ có tài sản mà không cần phải mở thêm thủ tục phá sản tại những nơi đó. 􀂃 Quan điểm thứ hai cho rằng thủ tục phá sản doanh nghiệp mang tính lãnh thổ. Theo quan điểm này, cần phải mở thủ tục phá sản doanh nghiệp tại tất cả các nước nơi có tài sản của doanh nghiệp. Dĩ nhiên, không có quốc gia nào chỉ đơn thuần áp dụng một cơ chế duy nhất mà thường có sự kết hợp nhiều loại cơ chế trung gian, ví dụ như cơ chế được quy định tại Nghị định số 1346/2000 của Liên minh Châu Âu với sự kết hợp hai cơ chế nêu trên, theo đó có thể mở một thủ tục chính tại một nước và nhiều thủ tục phụ tại nhiều nước khác để giải quyết tình trạng mất khả năng thanh toán của doanh nghiệp.

TÀI LIỆU LUẬN VĂN CÙNG DANH MỤC

TIN KHUYẾN MÃI

  • Thư viện tài liệu Phong Phú

    Hỗ trợ download nhiều Website

  • Nạp thẻ & Download nhanh

    Hỗ trợ nạp thẻ qua Momo & Zalo Pay

  • Nhận nhiều khuyến mãi

    Khi đăng ký & nạp thẻ ngay Hôm Nay

NẠP THẺ NGAY