Những chướng ngại vật trên hành lang pháp lý về giao dịch bảo đảm

NỘI DUNG Cùng với việc ban hành các đạo luật quan trọng như Luật Đất đai năm 2003, Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 2004, Luật Nhà ở năm 2005, Bộ luật Hàng hải năm 2005, Luật Hàng không dân dụng Việt Nam năm 2006 . và đặc biệt là Bộ luật Dân sự năm 2005, pháp luật về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ đã không ngừng được củng cố, hoàn thiện, tạo hành lang pháp lý an toàn, hiệu quả cho việc xác lập và thực hiện các giao dịch này. Tuy nhiên, bên cạnh những ưu việt không thể phù nhận, thì vẫn còn tồn tại một số “chướng ngại vật” trên hành lang pháp lý này cần được kịp thời dẹp bỏ, tạo luồng thông thoáng cho áp dụng pháp luật. 1. Khó khăn trong xác định bên bảo đảm là hộ gia đình, quy định về định đoạt tài sản bảo đảm của hộ gia đình chưa rõ ràng a. Về xác định hộ gia đình Theo quy định của Bộ luật Dân sự thì hộ gia đình là hộ “mà các thành viên có tài sản chung, cùng đóng góp công sức để hoạt động kinh tế chung trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp hoặc một số lĩnh vực sản xuất, kinh doanh khác do pháp luật quy định là chủ thể khi tham gia quan hệ dân sự thuộc các lĩnh vực này” (Điều 106) và tài sản chung của hộ gia đình gồm: “quyền sử dụng đất, quyền sử dụng rừng, rừng trồng của hộ gia đình, tài sản do các thành viên đóng góp, cùng nhau tạo lập nên hoặc được tặng cho chung, được thừa kế chung và các tài sản khác mà các thành viên thoả thuận là tài sản chung của hộ” (Điều 108). Như vậy, hộ gia đình theo quy định của pháp luật dân sự là tập hợp nhóm thành viên hộ có quan hệ về tài sản và đồng thời là chủ thể của giao dịch dân sự. Tuy nhiên, do pháp luật hiện hành chỉ mới dừng lại ở những quy định mang tính nguyên tắc chung như trên mà chưa quy định cụ thể về tiêu chí và cơ chế thực hiện, nên việc xác định hộ gia đình với tư cách là chủ thể của pháp luật dân sự nói chung, bên bảo đảm nói riêng gặp nhiều khó khăn, vướng mắc. Một trong những hệ quả tất yếu của vấn đề nêu trên là trong thực tế áp dụng thường căn cứ vào Sổ hộ khẩu và xem đây là “bảo bối” để xác định về chủ thể này (ví dụ, các bên và cơ quan công chứng yêu cầu tất cả các thành viên có tên trong Sổ hộ khẩu phải ký tên vào hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất)1. Bỏ qua vai trò và những bất cập khi “hộ khẩu hóa quan hệ dân sự”, ở giác độ pháp lý, chúng tôi cho rằng, cách thức xác định trên chưa chính xác. Cụ thể, khác với hộ gia đình quy định tại Bộ luật Dân sự (các thành viên có quan hệ về tài sản và là chủ thể của giao dịch dân sự), hộ gia đình mà các thành viên được ghi trong Sổ hộ khẩu theo quy định của pháp luật về đăng ký và quản lý hộ khẩu có quan hệ với nhau về huyết thống, về hành chính, đồng thời là chủ thể của quan hệ hành chính. Điều này có thể thấy rõ qua quy định tại Điều 25 của Luật Cư trú, trong đó: Ngoài những người có quan hệ gia đình (quan hệ huyết thống) “là ông, bà, cha, mẹ, vợ, chồng, con và anh, chị, em ruột, cháu ruột thì có thể được cấp chung một sổ hộ khẩu” (khoản 1), những người khác không có quan hệ gia đình (ngoài huyến thống) “nếu có đủ điều kiện quy định tại Điều 19 và Điều 20 của Luật này và được chủ hộ đồng ý cho nhập vào sổ hộ khẩu cấp cho hộ gia đình thì được nhập chung vào sổ hộ khẩu đó” (khoản 3) TÀI LIỆU (1) Xem thêm bài của tác giả Dương Thanh Minh: “Một số khó khăn, vướng mắc về công chứng, chứng thực hợp đồng bảo đảm- Khả năng giải quyết tại Luật Công chứng và một số kiến nghị” (http://www.vibonline.com.vn/vi-VN/Forum/TopicDetail.aspx?TopicID=1669). (2) Cách hiểu này là suy đoán của tác giả trên cơ sở quy định của pháp luật hiện hành và thực tiễn ký kết hợp đồng bảo đảm. (3) Có một số ý kiến cho rằng: Chủ thể hộ gia đình là sản phẩm của nền kinh tế kế hoạch hoá, bao cấp và đã lạc hậu trong nền kinh tế thị trường hiện nay. (4) Điểm d khoản 2 Điều 110, điểm b khoản 1 Điều 111, điểm b khoản 2 và điểm d khoản 3 Điều 119, điểm c khoản 2 Điều 120, điểm c khoản 2 Điểu 121 của Luật Đất đai. (5)Hay còn có cách gọi khác là “lợi ích bảo đảm” (security interest). Nguồn gốc của quy định về “lợi ích bảo đảm” là tại Điều 9 của Bộ Quy tắc thương mại thống nhất của Hoa Kỳ (UCC) và hiện được tham khảo áp dụng tại nhiều quốc gia như tại Anh, một số bang của Ca-na-đa, Úc, Niu-di-lân Tham khảo Điều 2(ar) Luật về bảo đảm của bang No-va- sco-tia (Ca-na-đa), thì lợi ích bảo đảm được hiểu là: (i) lợi ích gắn với động sản nhằm bảo đảm cho một khoản nợ hoặc cho việc thực hiện nghĩa vụ, nhưng không bao gồm lợi ích của người bán hàng trong việc chuyển hàng đến cho người mua hàng theo vận đơn hoặc các văn bản tương tự của người bán, hoặc của người đại diện của người bán, trừ trường hợp các bên có những bằng chứng chứng minh rằng đã có ý định xác lập hoặc cung cấp một lợi ích bảo đảm trên/gắn với hàng hóa đó; và (ii) lợi ích của: (a) người giao tài sản cho bên nhận tài sản theo hợp đồng gửi bán thương mại; (b) bên cho thuê theo hợp đồng cho thuê có thời hạn trên một năm; (c) bên được chuyển giao theo tài khoản chuyển giao hoặc theo chứng thư bảo đảm (chattel paper); (d) người mua theo việc mua bán không chuyển giao tài sản và không bảo đảm cho khoản nợ hoặc cho việc thực hiện nghĩa vụ.(6) Pháp điển hóa những giao dịch này tại: Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về Giao dịch bảo đảm; Nghị định số 16/2001/NĐ-CP ngày 02/5/2001 của Chính phủ về Tổ chức và hoạt động của Công ty cho thuê tài chính; Thông tư số 04/2007/TT-BTP ngày 17/5/2007 của Bộ Tư pháp Hướng dẫn về thẩm quyền, trình tự và thủ tục đăng ký, cung cấp thông tin về hợp đồng mua trả chậm, trả dần, hợp đồng thuê tài sản, hợp đồng cho thuê tài chính và hợp đồng chuyển giao quyền đòi nợ. (7) Xem thêm bài của tác giả Nguyễn Việt Phương và Dương Thanh Minh: “Giới thiệu kinh nghiệm của một số quốc gia về đăng ký giao dịch bảo đảm”, Tạp chí Dân chủ & Pháp luật, Chuyên đề về Đăng ký giao dịch bảo đảm tháng 7/2008. (8) Các quy định gồm: khoản 1 và khoản 3 Điều 29 của Luật Hàng không dân dụng Việt Nam; khoản 2 Điều 35 của Bộ luật Hàng hải; Luật Đất đai và Nghị định số 181; khoản 3 Điều 93 của Luật Nhà ở; Điều 31 của Luật Bảo vệ và phát triển rừng. (9) Điều 134 của Bộ luật Dân sự quy định: “Trong trường hợp pháp luật quy định hình thức giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch mà các bên không tuân theo thì theo yêu cầu của một hoặc các bên, Toà án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác quyết định buộc các bên thực hiện quy định về hình thức của giao dịch trong một thời hạn; quá thời hạn đó mà không thực hiện thì giao dịch vô hiệu”. (10) Có thể tham khảo tại: http://diaoc.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=223951&ChannelID=204; http://www.congchungquangnam.com.vn/index.php?option=com_content&task=view&id=122&Item id=26. Đây cũng là lý do để có quy định “thòng” tại điểm d khoản 1 Điều 10 của Nghị định số 163 nêu trên. (11) Khoản 5 Điều 93 của Luật Nhà ở quy định: Quyền sở hữu nhà ở được chuyển cho bên mua, bên nhận tặng cho, bên thuê mua, bên nhận đổi nhà ở kể từ thời điểm hợp đồng được công chứng đối với giao dịch về nhà ở giữa cá nhân với cá nhân hoặc đã giao nhận nhà ở theo thỏa thuận trong hợp đồng đối với giao dịch về nhà ở mà một bên là tổ chức kinh doanh nhà ở hoặc từ thời điểm mở thừa kế trong trường hợp nhận thừa kế nhà ở.

TÀI LIỆU LUẬN VĂN CÙNG DANH MỤC

TIN KHUYẾN MÃI

  • Thư viện tài liệu Phong Phú

    Hỗ trợ download nhiều Website

  • Nạp thẻ & Download nhanh

    Hỗ trợ nạp thẻ qua Momo & Zalo Pay

  • Nhận nhiều khuyến mãi

    Khi đăng ký & nạp thẻ ngay Hôm Nay

NẠP THẺ NGAY