Một số ý kiến về việc hoàn thiện Luật Công đoàn trong bối cảnh hiện nay

Sự cần thiết phải hoàn thiện Luật Công đoàn Thứ nhất, để khắc phục sự lạc hậu của Luật Công đoàn năm 1990. Luật Công đoàn năm 1990, mặc dù với nội dung còn quá rộng khi quy định nhiều chức năng, quyền hạn, nhiệm vụ quan trọng của công đoàn, nhưng được nhìn nhận là một đạo luật đã bước đầu bắt nhịp được với đời sống lao động mới. Có nhiều nội dung của Luật Công đoàn năm 1990 đã thực sự đi vào cuộc sống, trong đó nổi bật là các quyền của công đoàn trong việc đại diện - bảo vệ người lao động (không phân biệt có phải là thành viên của công đoàn hay không). Cũng chính vì sự tham gia của công đoàn vào các lĩnh vực khác nhau của đời sống lao động như: giao kết hợp đồng lao động, ký kết thoả ước lao động tập thể, xây dựng nội quy lao động, xử lý kỷ luật lao động và xa hơn là tham gia cùng các cơ quan nhà nước, Chính phủ về các vấn đề lao động, đã tạo cho công đoàn uy tín trước người lao động, làm cho người lao động tin tưởng hơn, từ đó số lượng công đoàn viên đã tăng đáng kể, dẫn đến phát sinh nhiều mối quan hệ mới cần có sự điều chỉnh kịp thời. Do vậy, cần phải thay bằng “cái áo” khác rộng hơn cho Luật Công đoàn hiện hành. Thứ hai, để đảm bảo sự phù hợp với những nội dung của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có sự quản lý của nhà nước và của thị trường lao động ở Việt Nam. Trước đây, khi Luật Công đoàn năm 1957 ra đời, Việt Nam đang trong những năm đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội. Do đó, các quy định của Luật Công đoàn chủ yếu tập trung quy định những nhiệm vụ cơ bản của người lao động trong khu vực nhà nước. Vì vậy, các hoạt động công đoàn chủ yếu tập trung vào nhiệm vụ động viên, khuyến khích công nhân, viên chức và người lao động phát huy tinh thần yêu nước trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc1. Luật Công đoàn năm 1990 ra đời trong bối cảnh Việt Nam đã có đường lối đổi mới theo tinh thần Hiến pháp năm 1980, Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VI (1986). Luật Công đoàn năm 1990 ra đời khi Việt Nam đã bắt tay thực hiện những quy định đổi mới sản xuất, kinh doanh theo Quyết định 217/HĐBT ngày 14/11/1987 về đổi mới quyền tự chủ trong các xí nghiệp quốc doanh và tiếp đến là triển khai thi hành Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam (29/12/1987). Nền kinh tế Việt Nam thời kì đầu những năm 1990 đang dần chuyển đổi sang cơ chế thị trường. Do đó, tổ chức công đoàn không chỉ tồn tại trong các cơ quan, xí nghiệp nhà nước mà đã xuất hiện trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam theo ba loại hình: xí nghiệp liên doanh, xí nghiệp một trăm phần trăm vốn nước ngoài và các xí nghiệp được thành lập theo hình thức hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng. Tuy nhiên, dầu sao, ở thời kì đó, công đoàn vẫn là một tổ chức ít chịu tác động lớn của kinh tế thị trường. Sự bao cấp cả về kinh tế, tư tưởng, phương thức hoạt động đã làm cho công đoàn không phải là tổ chức xã hội có sự phản ứng nhanh, mạnh mẽ đối với sự đổi mới của nền kinh tế, xã hội. Vào nửa cuối những năm 1990, khi Bộ luật Lao động có hiệu lực (1/1/1995), sự tiếp cận cơ chế thị trường của công đoàn bắt đầu có những thay đổi lớn. Công đoàn đã phải xây dựng kế hoạch phát triển công đoàn viên bởi số lao động trong doanh nghiệp nhà nước giảm mạnh do quá trình chuyển đổi kinh tế2. Nền kinh tế nhiều thành phần theo “thể chế thị trường” được đưa vào mục tiêu chiến lược 10 năm (2001 – 2010) tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã trở thành một điểm nhấn về chính trị - xã hội trong hoạt động công đoàn. Hiện nay, cùng với sự chuyển biến mạnh mẽ của nền kinh tế xã hội, quan hệ lao động đã có sự phát triển mới, với việc xác định xây dựng thị trường lao động và sự hình thành cơ chế ba bên trong quan hệ lao động. Những vấn đề về lao động xã hội được Đại hội lần thứ X của Đảng xác định như một quyết tâm lớn của xã hội3 . TÀI LIỆU (1) “Để định rõ vai trò, nhiệm vụ và quyền hạn của tổ chức Công đoàn trong chế độ dân chủ nhân dân do giai cấp công nhân lãnh đạo, tạo điều kiện thuận lợi cho giai cấp công nhân phát triển và củng cố tổ chức, phát huy tác dụng tích cực của Công đoàn trong công cuộc xây dựng chính quyền, kiến thiết kinh tế, phát triển văn hoá, nhằm củng cố miền Bắc, đưa miền Bắc tiến dần lên chủ nghĩa xã hội, làm cơ sở cho cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà và xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh” - Lời nói đầu của Luật Công đoàn 1957 (Ban hành kèm theo Sắc lệnh số 108/SL-L10 ngày 5/11/1957). (2) Huỳnh Thân, Một triệu đoàn viên”, Báo Lao động điện tử số 169 - cập nhật 8:52 AM ngày 25/7/2008, “số lượng CNLĐ trong khu vực DNNN trong 5 năm qua (từ 2003-2008) giảm 16% do quá trình sắp xếp, đổi mới chỉ còn trên 1,9 triệu người - chiếm 28% trong tổng số gần 6,8 triệu lao động trong các thành phần kinh tế, thì mới thấy được hết ý nghĩa của “Chương trình phát triển một triệu đoàn viên”. 5 năm qua, tổ chức Công đoàn đã kết nạp được gần 2,2 triệu ĐV, nâng tổng số ĐV từ năm 2003 là 4,6 triệu ĐV lên 6,1 triệu ĐV (trong 5 năm giảm 782.000 ĐV vì CNLĐ khu DNNN giảm). (3) “Chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng giảm tỉ trọng lao động nông, lâm nghiệp và thủy sản xuống dưới 50% vào năm 2010; tăng tỉ trọng lao động công nghiệp, xây dựng và đặc biệt là lao động ở khu vực dịch vụ trong tổng lao động xã hội. Ưu tiên dành vốn đầu tư của Nhà nước và huy động vốn xã hội để giải quyết việc làm, giảm tỉ lệ thất nghiệp. Khuyến khích người lao động tự tạo việc làm, khuyến khích các doanh nghiệp phát triển các ngành nghề sử dụng nhiều lao động. Chú trọng đào tạo nghề, tạo việc làm cho nông dân, nhất là những nơi đất nông nghiệp bị chuyển đổi do đô thị hoá và công nghiệp hoá. Phát triển các dịch vụ phục vụ đời sống của người lao động ở các khu công nghiệp. Tiếp tục thực hiện chương trình xuất khẩu lao động, tăng tỉ lệ lao động xuất khẩu đã qua đào tạo, quản lý chặt chẽ và bảo vệ quyền lợi chính đáng của người lao động. Tiếp tục hoàn chỉnh thể chế thị trường lao động theo hướng bảo đảm hài hoà lợi ích của người lao động và người sử dụng lao động. Đổi mới hệ thống bảo hiểm xã hội theo hướng đa dạng hoá hình thức và phù hợp với kinh tế thị trường; xây dựng chế độ bảo hiểm thất nghiệp, thực hiện tốt chế độ bảo hộ lao động, an toàn lao động và vệ sinh lao động”. (4) Tính trong vòng 5 năm từ 2003 đến 2007 số lượng lao động trong khu vực nhà nước giảm từ 9,95% (2003) đến 9,0% (năm 2007). (5) Liên minh HTX Việt Nam là tổ chức kinh tế - xã hội, giúp cho Đảng và Nhà nước phát triển kinh tế tập thể ngày càng vững mạnh, góp phần cùng kinh tế nhà nước ngày càng trở thành nền tảng của nền kinh tế quốc dân. Liên minh HTX Việt Nam hoạt động theo Luật HTX năm 2003, có chức năng đại diện và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các HTX, liên hiệp HTX và thành viên; tuyên truyền, vận động phát triển HTX; hỗ trợ tư vấn, cung cấp dịch vụ cho HTX, liên hiệp HTX và thành viên; tham gia xây dựng chính sách, pháp luật có liên quan đến HTX; đại diện cho HTX, liên hiệp HTX và thành viên trong quan hệ hoạt động phối hợp giữa các thành viên trong và ngoài nước theo quy định của pháp luật. Vận động hướng dẫn các hộ kinh tế gia đình, hộ kinh tế cá thể, tiểu chủ, các cơ sở sản xuất, kinh doanh nhỏ và vừa, các cá nhân, pháp nhân khác phát triển kinh tế tập thể trên nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, cùng có lợi và quản lý dân chủ, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh - Điều lệ Liên minh hợp tác xã Việt Nam (ban hành kèm theo Quyết định số 75/2005/QĐ-TTg ngày 11/4/2005 của Thủ tướng Chính phủ) (6) Tại dự thảo Bộ luật Lao động sửa đổi lần thứ hai đã sử dụng khái niệm này nhưng chưa nói rõ đó là tổ chức nào, có vị trí, vai trò chính thức như thế nào trong quan hệ lao động. (7) Công ước quy định rằng: “Mọi thành viên nào của Tổ chức lao động quốc tế mà tại đó Công ước này có hiệu lực, cam kết áp dụng mọi biện pháp cần thiết và thích hợp để bảo đảm cho người lao động và người sử dụng lao động được tự do thi hành quyền được tổ chức” - Điều 11, Công ước số 87 của Tổ chức lao động quốc tế về quyền tự do liên kết và việc bảo vệ quyền được tổ chức, được thông qua 17/6/1948. (8) Công ước số 87 (đã dẫn), Điều 10. (9) Hiến pháp năm 1992 (Điều 10) quy định: “Công đoàn là tổ chức chính trị - xã hội của giai cấp công nhân và của người lao động cùng với cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội chăm lo và bảo vệ quyền lợi của cán bộ, công nhân, viên chức và những người lao động khác; tham gia quản lý nhà nứoc và xã hội, tham gia kiểm tra, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế; giáo dục cán bộ, công nhân, viên chức và những người lao động khác xây dựng và bảo vệ tổ quốc”. Điều 2 Luật Công đoàn năm 1990 quy định: 1- Công đoàn đại diện và bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động; có trách nhiệm tham gia với Nhà nước phát triển sản xuất, giải quyết việc làm, cải thiện đời sống vật chất, tinh thần của người lao động. 2- Công đoàn đại diện và tổ chức người lao động tham gia quản lý cơ quan, đơn vị, tổ chức, quản lý kinh tế - xã hội, quản lý Nhà nước; trong phạm vi chức năng của mình, thực hiện quyền kiểm tra, giám sát hoạt động của cơ quan, đơn vị, tổ chức theo quy định của pháp luật. 3- Công đoàn có trách nhiệm tổ chức, giáo dục, động viên người lao động phát huy vai trò làm chủ đất nước, thực hiện nghĩa vụ công dân, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

TÀI LIỆU LUẬN VĂN CÙNG DANH MỤC

TIN KHUYẾN MÃI

  • Thư viện tài liệu Phong Phú

    Hỗ trợ download nhiều Website

  • Nạp thẻ & Download nhanh

    Hỗ trợ nạp thẻ qua Momo & Zalo Pay

  • Nhận nhiều khuyến mãi

    Khi đăng ký & nạp thẻ ngay Hôm Nay

NẠP THẺ NGAY