Kinh nghiệm hòa giải một số vụ việc cụ thể

I. LĨNH VỰC DÂN SỰ - ĐẤT ĐAI 1. Các tình huống liên quan đến tài sản Mượn tài sản Bà N và bà T ở cùng xóm. Một buổi sáng bà T sang nhà bà N mượn chiếc xuồng đi câu cá vì đang mùa nước nổi, cá rất nhiều. Bà N đồng ý và chỉ xuống bến sông trước nhà lấy xuồng. Khi lấy xuồng bà T không biết một bên be xuồng sắp bị bung ra (do trước đây con bà N lấy đi và bị đụng, nhưng về nhà không dám nói vì sợ bị mắng nên đã lấy đinh đóng tạm lại). Sau một buổi câu được rất nhiều cá, bà T bơi xuồng về, gần đến nhà thì gặp bà Y cũng là người cùng xóm đang đi trên bờ. Bà Y hỏi mượn lại chiếc xuồng để đi thăm ruộng và hứa đến chiều sẽ đem lại nhà bà N trả. Bà T đồng ý và giao xuồng lại cho bà Y. Sáng hôm sau, khi xuống xuồng chuẩn bị đi đám bà N phát hiện một bên be xuồng bị bung ra và nước đang tràn vào. Bà N cho rằng bà T đã làm hỏng và yêu cầu bà T phải bồi thường. Bà T cho rằng bà không làm hư và có thể bà Y đã đụng vào đâu đó khi mượn. Bà Y nói, bà không làm hư và cũng không biết gì về việc chiếc xuồng bị hư. Mâu thuẫn giữa hai người ngày càng lớn. Sau khi nghe sự việc và xác định đây là vụ hiểu lầm mà nguyên nhân chính là do sự không thành thật của con trai bà N, hoà giải viên đã nói với các bên về quan hệ hàng xóm láng giềng, về phong tục, tập quán của người Việt Nam và truyền thống đoàn kết, tương thân, tương ái của cộng đồng. Sau đó căn cứ vào các quy định của Bộ luật dân sự tiến hành phân tích, giải thích rõ cái sai của từng người. Về phía bà N, cán bộ hoà giải đã tìm cách chứng minh cho bà biết be xuồng bị bung ra là do lỗi của con trai bà chứ không phải do bà T hay bà Y làm hư và mời con bà N đến trình bày rõ sự thật về chiếc xuồng bị hư để làm sáng tỏ mọi việc. Về phía bà T, việc bà N cho mượn xuồng cũng vì tình nghĩa láng giềng, khi cho mượn bà N không thu một khoản lợi ích vật chất nào. Tuy nhiên, việc bà T tự ý cho bà Y mượn xuồng của bà N mà không hỏi bà N và không trả xuồng đúng thời hạn là sai. Điều 517 Bộ luật dân sự năm 1995 quy định: không được cho người khác mượn lại, nếu không có sự đồng ý của bên cho mượn; trả lại tài sản mượn đúng thời hạn; nếu không có thoả thuận về thời hạn trả lại tài sản mượn, thì bên mượn phải trả lại tài sản ngay sau khi đạt mục đích mượn. Sau khi nghe sự giải thích có tình, có lý của hoà giải viên các bà hiểu ra sự việc và cùng nhau vui vẻ ngồi bàn chuyện làm ăn Thuê tài sản Ông A có hai công đất ruộng nhưng do hoàn cảnh neo đơn, thiếu lao động và vốn, không thể tiếp tục canh tác nên ông cho ông B (người cùng xóm) thuê để canh tác trong thời hạn 3 năm và ông B hứa sẽ trả tiền thuê đất hàng năm cho ông A. Canh tác được một năm, đến hạn trả tiền thuê nhưng do hoàn cảnh khó khăn ông B không trả và ông A cho gia hạn thêm 6 tháng nữa nhưng ông B vẫn không trả được đồng nào. Cuối cùng ông A yêu cầu ông B hoàn trả lại đất và đòi tiền cho thuê quyền sử dụng đất. Ông B không chịu vì cho rằng thời hạn cho thuê đất chưa hết. Mâu thuẫn xảy ra, hai bên kéo nhau ra tổ hoà giải yêu cầu giải quyết. Tổ hoà giải đã tìm hiểu sự việc và biết rằng đây là trường hợp cho thuê quyền sử dụng đất nhưng vì cả hai đều không biết các quy định của pháp luật về quyền và nghĩa vụ người thuê và người cho thuê nên đã không thực hiện đúng và vì thế nảy sinh mâu thuẫn. Trên cơ sở đó, hoà giải viên đã gặp gỡ, giải thích cho ông A và ông B hiểu các quy định của pháp luật về cho thuê quyền sử dụng đất và cách thức thực hiện. Về phía ông A, hoà giải viên đã chỉ cho ông A thấy ông có quyền cho thuê quyền sử dụng đất. Việc cho thuê quyền sử dụng đất phải làm hợp đồng bằng văn bản và phải đăng ký tại Uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền. Về phía ông B, cán bộ hoà giải phải nói rõ việc ông A đòi lại đất và tiền thuê đất là đúng. Theo quy định tại Điều 722 của Bộ luật dân sự năm 1995 thì khi bên thuê chậm trả tiền thuê quyền sử dụng đất theo thoả thuận thì bên cho thuê có thể gia hạn; nếu hết thời hạn đó mà bên thuê không thực hiện nghĩa vụ thì bên cho thuê có quyền đơn phương đình chỉ việc thực hiện hợp đồng thuê quyền sử dụng đất, yêu cầu bên thuê hoàn trả đất và có quyền yêu cầu bên thuê trả đủ tiền trong thời gian đã thuê. Sau khi nghiên cứu kỹ các quy định của Luật đất đai và Bộ luật dân sự về quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất, hợp đồng thuê quyền sử dụng đất, lại được nghe lời phân tích thấu tình đạt lý của hoà giải viên, ông B hứa sẽ cố gắng trả đủ tiền thuê đất cho ông A trong thời gian vừa qua. Hai ông đã làm lại hợp đồng thuê quyền sử dụng đất theo thủ tục pháp luật quy định và ông A lại tiếp tục cho ông B thuê đất. Khai thác lợi ích từ tài sản cầm cố Ông A cầm chiếc xuồng cho ông B để vay một số tiền là 500.000đ mua phân bón ruộng. Vì chiếc xuồng giá trị nhỏ, hai bên không lập hợp đồng bằng văn bản mà chỉ hợp đồng trên miệng. Thời hạn cầm xuồng là 2 tháng với lãi suất 1%/tháng. Gia đình ông B sống bằng nghề đưa khách qua sông. Nhân dịp Tết nguyên đán ông B đem chiếc xuồng làm phương tiện chở khách. Ông A phát hiện và yêu cầu ông B đình chỉ việc sử dụng chiếc xuồng. Ông B không đồng ý vẫn đem xuồng đi chở khách. Hai bên lời qua tiếng lại, anh T là hòa giải viên ở ấp bèn đến phân giải. Đầu tiên anh T đề nghị hai bên trình bày sự việc. Khi đã xác định được nội dung chủ yếu của vụ việc là cầm cố tài sản và hai bên không có thỏa thuận về khai thác lợi ích từ tài sản cầm cố. Anh T đã giải thích cho đôi bên hiểu về quyền và nghĩa vụ của các bên khi giao kết hợp đồng cầm cố. Theo quy định tại khoản 3 Điều 334 Bộ luật dân sự năm 1995 “không được khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản cầm cố, nếu không được bên cầm cố đồng ý”. Trong trường hợp hai bên không có thỏa thuận rõ ngay từ đầu nên việc ông B tự ý đem sử dụng chiếc xuồng trong thời gian cầm cố là sai do không hiểu rõ các quy định của pháp luật. Ông B nên nhận khuyết điểm về mình và đình chỉ việc sử dụng xuồng nếu ông A không đồng ý. Ngoài ra, anh T còn phân tích để ông A thấy quan hệ hàng xóm láng giềng giúp nhau lúc tối lửa tắt đèn, khi ông A gặp khó khăn không có tiền để mua phân bón, ông B đã cho vay. Vì thế, mặc dù từ đầu không giao kết cho khai thác sử dụng xuồng nhưng trong mấy ngày Tết ông A nên để ông B dùng xuồng phục vụ nhu cầu đi lại của bà con trong xóm vừa là giúp mọi người và vừa có thêm thu nhập. Đồng thời anh T cũng đề nghị nếu được ông A cho phép sử dụng xuồng, ông B cũng nên chia cho ông A một phần tiền thu được trong việc chở khách hoặc giảm bớt lãi suất tiền vay. Qua sự phân tích của anh T ông A và ông B đã hiểu ra sự việc và tự hòa giải với nhau. Tranh chấp tài sản thừa kế Ông A và bà B có hai con chung là L và H. Chị L đã lập gia đình và ở nhà chồng. Anh H hiện còn độc thân, sống chung với bố mẹ. Năm 2001, ông A và bà B qua đời để lại căn nhà trị giá 200.000.000đ. Do bị tai nạn bất ngờ nên ông A và bà B không để lại di chúc. Đầu năm 2002, chị L yêu cầu anh H chia tài sản. Anh H cho rằng anh là người có công nuôi dưỡng cha mẹ nên căn nhà này đương nhiên là của anh, chị L đã có gia đình và ở riêng từ lâu nên không có quyền yêu cầu chia tài sản. Chị L làm đơn gửi Tòa án. Khi tìm hiểu các bên về những vấn đề có liên quan đến vụ tranh chấp, hòa giải viên xác định nội dung chủ yếu của sự việc là chia tài sản thừa kế khi không có di chúc. Sau khi nghiên cứu các quy định của pháp luật về thừa kế, phân chia di sản, hòa giải viên đã giải thích cho anh H biết việc chị L có gia đình và ở riêng không ảnh hưởng đến quyền hưởng di sản thừa kế và những người cùng hàng thừa kế được hưởng phần di sản bằng nhau. Trong trường hợp này, anh H và chị L cùng thuộc hàng thừa kế thứ nhất. Như vậy theo quy định của pháp luật về thừa kế mỗi người sẽ được hưởng 1/2 khối di sản cha mẹ họ để lại (là 100.000.000đồng/người). Tuy nhiên, hai người là chị em ruột, chị L đã di lấy chồng và ra ở riêng, anh H đang là người trực tiếp quản lý di sản do đó việc phân chia cụ thể hai bên có thể tự thỏa thuận với nhau trên cơ sở trích một phần trong khối di sản chung để làm di sản dùng cho việc thờ cúng cha mẹ do anh H quản lý; anh H được ở lại căn nhà và trả cho chị L một số tiền do hai bên tự thỏa thuận. Cả hai cần quý trọng tình cảm gia đình ruột thịt không nên vì tiền làm sứt mẻ tình cảm chị em. Sau khi được giải thích về các quy định của pháp luật lại được nghe sự phân tích thiệt hơn của hòa giải viên về quan hệ tình cảm gia đình, chị L và anh H đã hiểu ra sự việc. Chị L rút đơn về hai người tự hòa giải và thỏa thuận phân chia tài sản với nhau. Những chú vịt lạc đàn Thực hiện chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi trong nông nghiệp và xây dựng những cánh đồng 50 triệu đồng/ năm, bà con xã Q tích cực đầu tư vốn, công sức, áp dụng những tiến bộ kỹ thuật, tập trung phát triển chăn nuôi, trồng cây có giá trị kinh tế cao. Kinh tế vườn, ao, chuồng được vận dụng và khai thác có hiệu quả. Gia đình ông K và ông H là những gia đình chăn nuôi vịt nhiều năm. Thu nhập từ chăn nuôi vịt đã đem lại cho họ những khoản thu có giá trị giúp kinh tế gia đình ngày càng khá giả. Tuy vậy, cũng chính từ những đàn vịt ấy đã gây cho họ những rắc rối có lúc tưởng không thể giải quyết được. Tuy hai gia đình ở cách nhau nhưng vẫn cùng xóm, vì vậy hai đàn vịt của ông K và ông H đã tắm chung một ao, kiếm ăn chung trong một mảnh ruộng. Chúng hòa lẫn vào nhau rồi lại ra thành từng đàn riêng biệt để theo chủ về chuồng. Hôm đó, cũng như thường ngày, hai đứa trẻ của hai gia đình cùng lùa đàn vịt đi kiếm ăn ngoài đồng. Chiều tà, chúng lùa vịt về, ông K thấy đàn vịt nhà mình có vẻ ít hơn mọi hôm nên đã ngăn đàn vịt ra để đếm và thấy thiếu 20 con. Ông sang nhà ông H đề nghị đượcxin lại 20 con vịt lạc sang đàn vịt nhà ông H. Lúc đầu ông H cũng có cảm giác hôm nay đàn vịt nhà ông có vẻ đông hơn, nhưng vì vịt hai nhà cùng lứa, cùng màu lông nên không thể phát hiện được, vì thế ông H không đồng ý. Do ông K thiếu bình tĩnh và không khéo léo có những lời qua, tiếng lại không đẹp nên ông H càng bực mình, dẫn đến hai gia đình cãi nhau và sinh ra mâu thuẫn. Biết chuyện các thành viên Tổ hòa giải đã đến nhà hai ông để giải quyết. Với kinh nghiệm của những người đã nuôi vịt lâu năm và hiểu rõ đặc tính riêng biệt của các đàn vịt nuôi, các tổ viên Tổ hòa giải đã khẩn trương đưa ra phương án giải quyết bất ngờ. Đó là yêu cầu hai gia đình thả đàn vịt chung cùng một ao, sau đó bằng các tín hiệu đặc trưng riêng của hai nhà gọi rẽ đàn vịt ra. Sau khi rẽ xong cho kiểm tra lại đàn vịt của từng nhà. Ông K và ông H đều chấp nhận phương án này. Việc nhập hai đàn vịt của gia đình ông K và ông H được tiến hành tại một ao của gia đình khác trong xóm. Sau một hồi bơi lội thỏa thích, khi nghe những tiếng động quen thuộc đặc trưng của hai nhà, đàn vịt trộn lẫn đã tách ra hai cánh rẽ theo hai hướng khác nhau, một về phía nhà ông K và một về hướng nhà ông H. Quả nhiên, khi đã rẽ hết thành hai đàn vịt riêng rẽ thì ở đầu đàn vịt về hướng nhà ông H tự nhiên có sự lộn xộn, một số con quay ngang đầu tách khỏi đàn bơi về phía đàn vịt nhà ông K, cả thảy có 20 con không hơn, không kém. Chúng kéo thành vệt dài nối đuôi nhau kết với đoạn đầu thành một hình tam giác rất đẹp trên mặt ao trước sự chứng kiến của các tổ viên Tổ hòa giải cùng hai gia đình và mọi người trong thôn. Ông K và ông H đã vui vẻ bắt tay nhau trên bờ ao. Vụ tranh chấp đàn vịt lạc đàn được giải quyết ổn thỏa. Tình làng, nghĩa xóm được củng cố, trật tự thôn xóm được ổn định. Mọi người đều phấn khởi, vui vẻ tăng gia sản xuất phát triển kinh tế gia đình. Dùng xe trừ nợ Anh Lê Văn C có hợp đồng cho anh Trần Văn X vay lãi số tiền là 2 triệu đồng để làm kinh tế, mức lãi suất 2%/tháng, thời hạn vay là 3 tháng. Trong quá trình làm ăn, anh X gặp rủi ro nên không có khả năng thanh toán đúng thời hạn. Anh X đề nghị anh C gia hạn hợp đồng. Anh C nhất trí nhưng yêu cầu nâng lãi suất lên 8%/tháng. Anh X vì túng thiếu nên đã nhất trí. Hai tháng sau khi gia hạn, anh X mượn xe máy của anh trai có việc đi ngang qua nhà anh C. Anh C gọi anh X vào và yêu cầu trả tiền ngay. Do anh X không có tiền trả, anh C đã giữ lại chiếc xe máy trị giá 5 triệu đồng và dọa nếu anh X không thanh toán nợ ngay thì sẽ bán xe máy để trừ vào nợ. Hai bên mâu thuẫn gay gắt. Được tin, cán bộ hòa xã giải phối hợp với tổ hòa giải thôn, đại diện Mặt trận Tổ quốc và những người có uy tín có mặt để can thiệp kịp thời. Sau khi tìm hiểu sự việc và nghe hai bên trình bày, cán bộ hòa giải đã lần lượt phân tích rõ từng điểm cho anh C và anh X nghe. Về phía anh C, cán bộ hòa giải đã giải thích cho anh C thấy sau khi đồng ý gia hạn hợp đồng vay tiền của anh X, thì hợp đồng vay tiền mới không có kỳ hạn. Nếu muốn đòi lại tiền anh C phải thông báo trước cho anh X một thời gian hợp lý. vì vậy việc anh C yêu cầu anh X phải trả tiền ngay và giữ xe máy là sai với quy định của pháp luật. Hơn nữa, việc anh C tăng lãi suất lên 8%/tháng là trái với quy định của Bộ luật dân sự mặc dù hai bên đã thỏa thuận. Điều 473 của Bộ luật dân sự quy định: lãi suất vay do các bên thỏa thuận nhưng không được vượt quá 50% của lãi suất cao nhất do Ngân hàng nhà nước quy định đối với loại vay tương ứng. Mặt khác, truyền thống của người Việt Nam xưa nay là “lá lành đùm lá rách” hay “bầu ơi thương lấy bí cùng, tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn” đó là đối với người trong nước. Còn anh X là người cùng làng, do hoàn cảnh kinh tế khó khăn không có vốn làm ăn nay lại gặp rủi ro chưa có điều kiện thanh toán. Anh C có điều kiện hơn nên giúp đỡ anh X để cùng nhau làm kinh tế xây dựng gia đình hạnh phúc, ấm no. Được sự phân tích khéo léo của cán bộ hòa giải anh C đã thấy được sai lầm của mình. Anh đã vui vẻ trả lại xe cho anh X và tạo điều kiện cho anh X tiếp tục vay với lãi suất thấp hơn để tiếp tục làm ăn. Hợp đồng vay tiền Gia đình bà A và bà M ở cùng xóm. Sáng ra, khi ra đồng thấy ruộng lúa nhà mình đang bị sâu rầy tấn công dữ dội, bà A vội trở về và sang nhà bà M vay 1.000.000 đồng để mua thuốc trừ sâu và phân bón lúa với thoả thuận là hàng tháng bà sẽ trả lãi cho bà M theo lãi suất của ngân hàng. Mấy tháng liền bà A vẫn đóng lãi đầy đủ, đến khi thu hoạch, do mùa màng thất bát và lúc này lúa lại mất giá nên tiền thu được không đủ chi phí để trang trải nợ nần. Thấy bà A đã bán lúa xong nhưng không đem tiền sang trả, bà M vội sang đòi. Bà A hứa đến mùa lúa sau sẽ trả hết vì hiện nay không có tiền để trả, hơn nữa bà cho rằng bà chỉ hứa trả lãi chứ không nói thời gian trả, vì vậy, khi nào có tiền bà sẽ trả. Bà M không chịu, yêu cầu bà A phải trả hết vì mới bán được lúa. Hai người mâu thuẫn với nhau và cùng nhau ra tổ hoà giải nhờ giải quyết. Sau khi tìm hiểu sự việc, xác định được đây là vụ việc dân sự, nguyên nhân chính là do việc vay nợ giữa hai bên không quy định rõ thời gian trả nợ. Bà A vừa bán lúa xong, tuy không có tiền để trả nợ nhưng lại không giải thích rõ ràng khiến bà M hiểu lầm. Vì thế, hoà giải viên đã giải thích cho bà A và bà M về mối quan hệ tình làng, nghĩa xóm “tối lửa tắt đèn có nhau”. Đồng thời hoà giải viên cũng nói cho bà A biết, bà A cũng có thiếu sót vì bà vừa bán lúa xong, tuy không có tiền để trả nợ nhưng lại không giải thích rõ ràng khiến bà M hiểu lầm. Hoà giải viên cũng phân tích cho bà M rằng bà A không trả được tiền vì mùa màng thất bát, giá lúa hạ nên không có tiền để trả nợ, tuy thế hàng tháng bà A vẫn đóng tiền lãi đầy đủ và không có ý định trốn nợ. Vì hai bên không thoả thuận về thời hạn cho vay, nên bà M có quyền yêu cầu bà A trả nợ bất kỳ lúc nào. Tuy nhiên, trước khi đòi nợ, bà M nên báo trước cho bà A để bà A có thời gian thu xếp trả nợ. Kết quả, sau khi nghe hoà giải viên phân tích mọi lẽ, bà M đồng ý đến mùa sau mới đòi nợ. Bà A cũng hứa sẽ đóng đủ lãi hàng thángvà cố gắng trả nợ đúng hạn. Tranh chấp trong thanh toán hợp đồng dân sự Ngày 25/01/2004 bà N có hợp đồng bán cho bà H chủ doanh nghiệp tư nhân Thuận Phát 28 tấn gạo với giá 2.570đ/kg độ ẩm 17%. Đến ngày giao gạo, bà N nhờ chủ phương tiện chở gạo đến giao cho bà H. Sau khi nhận hàng, bà H kiểm tra lại thì phát hiện gạo không đủ tiêu chuẩn theo như hợp đồng. Bà H báo lại với chủ phương tiện là gạo không đạt chất lượng, độ ẩm vượt quá 17% như quy định. Tuy thế, bà H vẫn cho nhập kho đủ 28 tấn gạo. Với lý do đó khi thanh toán bà H chỉ tính tiền với giá 2.560đ/kg ( mỗi kg bà H trừ 10 đồng). Bà N không chấp nhận, làm đơn khiếu nại về việc làm của bà H. Hai bên nảy sinh mâu thuẫn. Sau khi nhận được đơn của bà N, Ban hòa giải của phường 8 đã mời hai người đến làm thủ tục hòa giải. Qua nghiên cứu, xem xét sự việc, ban hòa giải nhận thấy việc mua bán gạo giữa hai bên không lập thành văn bản mà chỉ là hợp đồng miệng. Khi nhập gạo không đủ tiêu chuẩn chất lượng quy định theo thỏa thuận bà H cũng không trực tiếp thông báo với bà N mà lại thông qua chủ phương tiện là người chở mướn. Như vậy, cả hai bên đều có thiếu sót và mỗi bên phải chịu một phần trách nhiệm. Qua phân tích của ban hòa giải phường, hai bên đã nhận ra sai sót của mình và thống nhất với nhau mỗi bên sẽ chịu một nửa phần chênh lệch giá và không khiếu nại nhau nữa. Tranh chấp hợp đồng mua bán Vào ngày 05/10/2003, bà S đến Uỷ ban nhân dân phường yêu cầu giải quyết về việc chủ hiệu dịch vụ cầm đồ M đã không thực hiện đúng hợp đồng mua bán. Trong đơn bà S trình bày: vào ngày 30/9/2003, bà có đến dịch vụ cầm đồ M tìm mua một chiếc mô tô để làm phương tiện đi lại cho các con. Do không có khả năng mua xe mới nên bà phải tìm mua xe mà khách hàng đã cầm cố quá thời hạn không chuộc lại và chủ hiệu dịch vụ đem bán để thu lại vốn. Vì cũng có quen biết với chủ hiệu dịch vụ cầm đồ M nên bà s đến đó tìm mua. Sau khi được bà A, chủ của dịch vụ cầm đồ giới thiệu, bà đã chọn được một chiếc xe wave Trung Quốc với giá 5.000.000 đồng. Hai bên đã thoả thuận bà sẽ đặt cọc trước là 4.000.000 đồng, đến ngày 05/10/2003 sau khi chủ hiệu dịch vụ cầm đồ làm xong thủ tục để sang tên lại chiếc xe cho bà, thì bà sẽ trả lại số tiền còn lại là 1.000.000 đồng cho dịch vụ cầm đồ. Nhưng đến ngày hẹn thì bà A, chủ dịch vụ cầm đồ đòi bà trả đủ số tiền còn lại là 1.000.000 đồng thì sẽ giao giấy chứng nhận đăng ký xe để bà tự làm giấy sang tên chiếc xe, nếu không đồng ý thì có thể khiếu nại. Vì vậy bà gửi đơn đến Uỷ ban nhân dân phường để đề nghị giải quyết và đồng thời bà yêu cầu dịch vụ cầm đồ nếu không sang tên bán chiếc xe đó cho bà thì phải bồi thường gấp đôi tiền đặt cọc vì đã vi phạm hợp đồng mua bán theo quy định của Bộ luật dân sự. Như vậy, có nghĩa là chủ hiệu dịch vụ cầm đồ phải trả đủ tiền cọc cho bà là 8.000.000 đồng. Sau khi nghe bà S trình bày rõ sự việc, cán bộ tư pháp đã tiếp nhận đơn. Theo bà S trình bày thì số tiền bà mua xe là tiền của các con bà vay trả góp hàng ngày, nếu không mua được xe thì phải trả lại chứ không thể để lâu vì tiền lãi rất cao, nên liền sau đó cán bộ tư pháp đã trình bày sự việc này với Chủ tịch Uỷ ban nhân dân phường và tiến hành xác minh làm rõ sự việc. Hai ngày sau khi nhận đơn (ngày 07/10/2003), cán bộ tư pháp đã tiến hành mời hai bên đến để hoà giải, chủ tọa là Chủ tịch Uỷ ban nhân dân phường, cán bộ tư pháp cùng với sự tham gia của Hội Phụ nữ, Ban Thanh tra nhân dân phường, tổ hoà giải nơi dịch vụ cầm đồ đang kinh doanh. Trong buổi hoà giải, đại diện chủ hiệu dịch vụ cầm đồ là ông Q trình bày, chủ hiệu dịch vụ cầm đồ có bán chiếc xe wave do ông B đứng tên và cầm đồ cho dịch vụ từ ngày 24/05/2003. Theo thoả thuận giữa dịch vụ và khách hàng thì hàng tháng khách hàng phải đến đóng lãi, quá thời hạn 07 ngày thì món đồ cầm sẽ bị bán, nhưng chiếc xe này ông M đã cầm cho dịch vụ từ ngày 24/05/2003 đến 30/9/2003 đã 04 tháng mà không đóng lãi và không chuộc lại xe. Vì vậy, chủ hiệu dịch vụ phải đem ra bán để lấy lại vốn. Ông Q đã thoả thuận bán chiếc xe này cho bà S và nhận số tiền còn lại là 1.000.000 đồng. Nhưng khi đến Uỷ ban nhân dân xã nơi ông B thường trú để ký giấy mua bán xe thì gia đình mới biết ông B cầm xe để làm ăn và gia đình cũng biết nếu quá hạn mà không đóng tiền lãi thì chủ hiệu dịch vụ có quyền bán. Nhưng do ông B đang nuôi tôm sú ở rất xa không về được nên gia đình yêu cầu chủ hiệu dịch vụ tạm thời cho đóng lãi, gia đình sẽ liên hệ với ông B để chuộc lại xe. Đồng thời gia đình trình bày hoàn cảnh với Uỷ ban nhân dân xã và nhờ giúp đỡ. Do yêu cầu của gia đình ông B hợp tình, hợp lý nên Uỷ ban nhân dân xã cũng đã động viên ông Q tạm thời giữ lại chiếc xe để ông B về giải quyết và xác nhận vào giấy bán xe, nên ông Q không thể bán chiếc xe đó cho bà S. Ông Q cũng nói rõ cho bà S hiểu hoàn cảnh của ông B và đề nghị sẽ tìm chiếc xe khác để bán cho bà. Bà S nhất quyết không chịu và đòi mua cho được chiếc xe đó với lý do là chiếc xe các con bà rất ưng ý và đã có sửa chữa lại đôi chút. Mặt khác, chủ hiệu dịch vụ cầm đồ đã thoả thuận hợp đồng bán cho bà rồi thì không thể sai hợp đồng được. Bà cũng đưa ra điều kiện nếu ông Q không bán chiếc xe đó cho bà thì phải trả gấp đôi số tiền bà đã đặt cọc là 8.000.000 đồng. Ông Q cho rằng đề nghị của bà S là quá đáng và đã giải thích cho bà S hiểu, thông cảm cho ông, đồng thời đề nghị bà nếu bà S trả lại chiếc xe, ông sẽ trả lại tiền đặt cọc là 4.000.000 đồng, trả lại tiền sửa xe và phần tiền lãi mà bà S đã vay tính từ ngày dịch vụ nhận tiền đặt cọc đến ngày phường mời đến Tổ hoà giải. Qua ý kiến của hai bên, cán bộ hoà giải đã giải thích rằng nếu ông Q không thực hiện đúng thoả thuận với bà là vì muốn bán chiếc xe cho người khác thì ông Q phải chịu trách nhiệm với bà S và phải bồi thường vì đã vi phạm hợp đồng. Nhưng trong trường hợp này do điều kiện khách quan nên ông đã không thực hiện đúng theo thoả thuận. Mặt khác, việc ông Q đem bán chiếc xe cầm đã quá hạn để bán cho bà s không có gì sai trái, nhưng vì mô tô là loại tài sản có giá trị tương đối lớn và được cơ quan nhà nước cấp giấy chứng nhận đăng ký, khi muốn bán thì phải có chủ sở hữu ký tên bán. Đúng ra trước đó, muốn bán xe này ông Q phải làm thủ tục sang tên lại cho đại diện dịch vụ, sau đó mới làm giấy tờ mua bán với người mua là bà S. Nếu như làm trước động tác này thì có lẽ gia đình ông B đã sớm phát hiện ra và sự việc sẽ không phức tạp như vậy. Xét về lý thì sau khi biết hoàn cảnh ông B và gia đình ông B đã xin đóng lãi để chuộc xe thì ông Q không thể đem chiếc xe đó đi được. Đây là việc làm hợp với đạo lý và cũng tạo uy tín với khách hàng của ông Q. Hơn nữa, sự việc này gia đình ông B cũng đã báo với Uỷ ban nhân dân xã và yêu cầu can thiệp, Uỷ ban nhân dân xã đã động viên ông Q nên giữ lại chiếc xe và không ký xác nhận nên ông Q không thể bán chiếc xe đó cho bà S được. Qua phân tích sự việc, cán bộ hoà giải động viên hai bên thoả thuận và động viên bà S nên thông cảm và hiểu cho hoàn cảnh của ông B chủ xe mà giao trả lại cho ông Q, nếu như bà đồng ý thì ông Q sẽ chọn chiếc xe khác để bán cho bà như đã hứa. Cuối cùng hai bên thống nhất thoả thuận như sau: - Ông Q chủ dịch vụ cầm đồ sẽ trả lại tiền sửa xe và tiền lãi suất hàng ngày mà bà S đã vay để mua xe coi như là tiền thiệt hại cho bà, tính từ ngày dịch vụ nhận tiền đặt cọc đến ngày hai bên hoà giải thành là 07 ngày (từ ngày 30/9 đến 05/10/2003); - Bà S sẽ xác định rõ số tiền sửa xe và lãi suất hằng ngày là bao nhiêu thông báo cho ông Q biết cụ thể để hai bên cùng thoả thuận; - Đến ngày hôm sau là 08/10/2003 hai bên sẽ đến Uỷ ban nhân dân phường để thống nhất số tiền mà ông Q, chủ dịch vụ cầm đồ sẽ đền bù thiệt hại cho bà S. Sau khi thoả thuận xong thì bà S sẽ trả lại xe cho ông Q và ông Q sẽ trả lại tiền đặt cọc và phần tiền bồi hoàn cho bà S như đã thoả thuận. Cuộc hoà giải tưởng như đã thành nhưng đến hôm sau, bà S đến phường và nói rằng con gái của bà chuẩn bị sinh nên bà phải đến bệnh viện, bà đề nghị ông Q phải bồi thường cho bà 500.000 đồng bà mới trả xe. Căn cứ vào biên bản hai bên đã thoả thuận hôm trước thì cán bộ tư pháp giải thích rằng không thể thực hiện theo yêu cầu của bà S, hai bên phải gặp nhau để tự thoả thuận. Bà S ra về, liền sau đó hai người con của bà đến và cho biết phần tiền sửa xe là 150.000 đồng, lãi suất tiền vay là 25.000đồng/ngày/500.000đồng x 07 ngày = 175.000đồng. Như vậy tổng số tiền ông Q phải đền bù cho bà S là 325.000 đồng. Sau khi thoả thuận xong cán bộ tư pháp yêu cầu bà S đến để giao xe và nhận tiền vì bà là người đứng đơn yêu cầu giải quyết. Nhưng khi bà S đến lại không đồng ý với thoả thuận đó và yêu cầu đến Uỷ ban nhân dân xã liên hệ xác minh sự việc ông B chủ xe có đúng là đã yêu cầu đóng lãi để giữ chiếc xe đó lại hay không. Ông Q không đồng ý với đề nghị đó, vì ông cho

TÀI LIỆU LUẬN VĂN CÙNG DANH MỤC

TIN KHUYẾN MÃI

  • Thư viện tài liệu Phong Phú

    Hỗ trợ download nhiều Website

  • Nạp thẻ & Download nhanh

    Hỗ trợ nạp thẻ qua Momo & Zalo Pay

  • Nhận nhiều khuyến mãi

    Khi đăng ký & nạp thẻ ngay Hôm Nay

NẠP THẺ NGAY